Nhẫn nhục và Nhẫn nhục Ba la mật
Đây là đức tính tốt đẹp được tán thán nhiều trong các kinh sách Phật giáo. Nhẫn nhục chỉ có thể được phát triển dễ dàng nếu trạo cử và sân hận đã bị chế ngự trong tâm ta nhờ thực hành thiền định. Sự vô nhận có khuynh hướng làm cho chúng ta chạy quanh và như vậy bỏ lỡ cơ hội may mắn, là do ta không thể ngồi yên lặng và để cho các sự việc tự biểu lộ ra- các sự việc lắm khi biểu lộ ra mà không cần chúng ta can thiệp vào. Người nhẫn nhục có nhiều quả rơi ngay vào mình mà người cố đi nhặt chúng thì lại không nhặt được. Một trong các quả ấy là cái tâm tĩnh lặng, vì sự vô nhẫn làm xáo trộn tâm ta, nó đem đến những chứng bệnh lo lắng quen thuộc trong thế giới kinh doanh hiện tại. Chính đức tính nhẫn nhục chịu đựng một cách im lặng làm cho nhẫn nhục có giá trị rất cao trong việc tu tâm và đặc biệt trong thiền định. Mong chờ sự chứng ngộ ngay liền trong năm phút hành thiền thì thật chẳng hay ho tí nào. Cà phê thì có thể có ngay liền, nhưng thiền định không như thế được và chỉ có tổn hại sẽ đến khi ta thúc hối thiền định. Từ bao đời ô nhiễm cứ chồng chất thành một đống cặn bã tâm thức, thế rồi mới đầu ta nhập cuộc với một cái muỗng trà tí ti mà khởi cự múc nó đi thì đến bao giờ mới hết được? Nhẫn nhục là câu trả lời và sự nỗ lực cương quyết đi đôi với nhẫn nhục. Người hành thiền kiên nhẫn thật sự
thu hoạch được các kết quả có giá trị lâu dài, còn người chạy tìm "các phương pháp mau chóng" hay "giác ngộ ngay liền" thì phải chịu thất bại hoài vì thái độ của chính mình.
Thực vậy, những ai nghiên cứu Phật giáo cần phải hiểu ngay rằng Phật pháp không dành cho người không nhẫn nhục. Người Phật tử quan niệm đời sống hiện tại của mình rất ngắn, có lẽ chừng tám mươi năm, và đây là đời sống nối tiếp nhiều đời sống như vậy. tâm niệm như vậy, người Phật tử quyết định trong đời sống này càng làm nhiều càng tốt nhằm đạt đến giác ngộ, nhưng không đánh giá quá cao khả năng của mình và chỉ lặng lẽ, kiên trì sống theo Chánh Pháp từ ngày này qua ngày khác. Nếu chúng ta tâm đầu vào Giác ngộ ( hay điều gì mình nghĩ là Giác ngộ) như còn bò đực trong hàng đồ gốm thì như thế có lẽ không giúp chúng ta tiến xa được trừ khi chúng ta có căn tánh quá đặc biệt mới có thể chấp nhận xử sự như thế và điều quan trọng là ta phải tín thuận theo vị thiền sư có khả năng.
Bằng nhẫn nhục ta sẽ không tự gây hại cho mình mà cẩn thận đi từng bước theo Con Đường.Chúng ta biết được rằng vị Bồ tát rất thận trọng về điều ấy và Bồ Tát đã tu tập tâm mình bằng hạnh Ba la mật này để tâm không bị phiền nhiễu bởi những sự việc rắc rối vẫn thường xảy ra trong thế giới này. Ngài quyết định rằng Ngài sẽ nhẫn nhục với hoàn
cảnh bên ngoài không bị chao đảo vì trời quá nóng hay quá lạnh - không bị dao động vì các chúng sanh khác tấn công thân thể của mình, như rệp,muỗi. Ngài cũng không phiền hà khi người ta nói những lời thô lỗ, nói dối hay nhiếc mắng mình trước mặt hay sau lưng. Sự nhẫn nhục của Ngài không bị phá vỡ khi thân Ngài bị hành hạ, bị đánh thoi, bị gậy đập, đá ném hay bị tra tấn và ngay cả cái chết Ngài vẫn kiên trí chịu đựng, nhẫn nhục của Ngài thật kiên định. Các vị tu sĩ Phật giáo được khuyên thực hành theo cách thức này.
Trong truyền thống Phật giáo, hạnh Nhẫn nhục Ba la mật được biết nhiều hơn một vài Ba la mật khác. Sỡ dĩ như thế là vì có câu chuyện Bổn sanh rất nổi tiếng làm sáng tỏ hạnh ấy. Bổn sanh Khantivàdi ( vị thầy về nhẫn nhục) cần được đọc nhiều lần và cần được làm đối tượng cho những suy tư thâm sâu và thường xuyên. Chỉ có con người đặc biệt cao thượng - đây là Đức Gotama trong một tiền kiếp, bấy giờ được gọi là bậc Hiền trí dạy về Nhẫn nhục - mới nhu hòa khuyên bảo được một ông vua hung bạo và cuồng say vì tức giận, đã cắt dần thân thể của Ngài ra từng miếng. Sự thánh thiện như thế, kiên trì chịu đựng và nhu hòa, là cần phải có đối với tất cả những ai nỗ lực để đạt đến mục đích Giác ngộ.