về thiền định, một số sách này là hay và ở Thái lan có truyền thống sống động có thể giao tiếp được nếu ta đặc biệt quan tâm. Tu tập thiền định được Phật giáo giải thích rất rõ ràng và truyền thống tu tập thiền định lại rất mạnh mẽ trong Phật giáo, người viết cuốn sách này không làm gì hơn thế được ngoài việc cổ súy cho mọi người lưu tâm nhiều hơn đến việc tu thiền. Nếu chương nói về việc tu tập này ngắn hơn rõ rệt so với chương nói về Tin tưởng thì đấy kh6ng phải là chương nói về tin tưởng quan trọng hơn chương này mà chính là người viết tin rằng tu tập chỉ có thể được hiểu bằng tu tập, thực vậy, phương cách tốt nhất để biết được giống như cái gì không thể tìm được qua chữ nghĩa. Ta sẽ tìm thấy rõ ràng hơn nhiều nếu ta vẫy vùng trong nước. Những tu tập của đạo Phật kể ra thì rất nhiều nhưng không ngoài mục đích chứng ngộ.
Nếu ai muốn chứng ngộ thì phải chuyển tâm đầy đủ đến việc tu hành. Dù cho cả chục nghìn cuốn sách dày gấp mười lần cuốn này, nêu lên mọi chi tiết về thực hành thì cũng có ích gì đâu nếu người ta không thực hành theo đó?
Những nguy hiểm trong việc tu tâm
Trong khi một thiền giả có thể lầm lạc theo nhiều lối, dưới đây chỉ nhầm ghi những lầm lạc chung. Trước hết một nguy hiểm mà có nhấn mạnh
bao nhiêu cũng không đủ là sự thiếu khuyết một động cơ chân chính cho việc hành thiển. KHi Bát Chánh Đạo được miêu tả trong phần thuộc về trí tuệ, Chánh Tư duy được đặt kế tiếp sau Chánh Kiến (được nêu đầu tiên), như thế là nhấn mạnh rằng những căn bản hình thức nằm bên dưới sự tu Đạo phải là những căn bản thiện: những căn bản liên hệ đến sự từ bỏ ( vô tham), thiện chí ( vô sân) và bất bạo lực được nêu rõ. nếu kẻ nào hành thiền Phật giáo mà không có Chánh Kiến về khổ và khổ diệt, không có Chánh Tư duy thì thiền định của kẻ ấy bị đến chỗ sai lạc nghiêm trọng.
Chẳng hạn, có nhiều người thực hành thiền như là một phương tiện mang lấy quyền năng để suy động hay thôi miên hàng đệ tử. Một số người khác xem thiền định như là một phương tiện nhanh chóng thu đạt cho mình nhiều môn đệ và nhiều của cải. Tiếng tăm cũng là một động lực không chính đáng.Hết thảy mọi động lực như thế để đùa với thiền định có thể dẫn kẻ khinh suất đến bệnh hoạn và đôi khi đến sự bất quân bình về trí óc. Trong thiền định Phật giáo mà kinh nghiệm chân xác riêng tư của một người là điều tối quan trọng, không có gì tệ hại hơn sự việc một môn để nữa vời lại tự nâng mình lên thành một ông thầy.
Hiển nhiên, điều nay đưa đến một nguy hiểm xa hơn đó là nguy hiểm của kiêu mạn vốn có nhiều
hình thức. Một hình thức kiểu ấy là kiêu mạn của một người thấy nhựng biểu hiện ánh sáng trong lúc thiền và tưởng rằng đây là dấu hiệu báo trước thiền tư. Kế nữa là kiêu mạn của một kẻ chỉ đạt được thiền tư trong một khoảng khắc, lại cho mình là một Bậc thánh và điều này là một yếu tố mạnh để nếu không làm người khác tin phục mình thì chính tự mình tin phục mình. Người bình thường hành thiền coi chừng những thái độ thường thấy là "tôi thánh thiện hơn anh", " tôi nỗ lực, anh thì..." hay "tôi thiền mỗi ngày, anh thì...". Kiêu mạn là một trở ngại lớn cho mọi tiến bộ và chỉ có Phật hay A La Hán mới loại được hẳn kiêu mạn, còn mọi người như chúng ta cần phải chuyên tâm ngăn chặn nó.
Một nguy hiểm liên hệ đến điều này là nguy hiểm cho một người luôn luôn trông chờ cái gọi là tiến bộ. Vị ấy chắc chắn mình đang "tiến bộ" vì trong khi thiền, vị ấy thấy được các ánh sáng, nghe được các âm thanh, hay nhận thấy những cảm giác khác lạ. Vị ấy dần dần bị mê hoặc bằng các thứ ấy theo thời gian trôi qua và dần dần quên rằng mình đã khởi sự với nguyện vọng tìm con đường đi đến Giác ngộ. Rồi " thiền định" bị suy thoái vào các ảo tưởng, các hiện tượng kỳ dị dẫn dắt vị ấy vào các cảnh giới thần bí và ma thuật. Hơn con đường nào hết, con đường này chắc chắn sẽ đưa một thiền giả vào rối reng điên đảo. Cho dù các hiện tượng như
vậy đang mê hoặc, chúng cũng sẽ bị cắt phức đi bằng cách nhờ vào sự chú ý đơn thuần mà không bao giờ để cho tư tưởng thiếu mạch lạc về chúng và như thế tránh được các tán loạn này.
Một sự nguy hiểm khác là nỗ lực thiền quán trong khi quá bất ổn về tình cảm, mất quân bình và thiếu chín chắn. Trong trường hợp này, việc hiểu rõ giá trị của công đức sẽ có lợi. Vì công đức làm thanh tịnh tâm, nó sẽ là cơ sở tốt đẹp cho sự phát triển tâm thức và sự khinh an mà từ đó có các định cùng với sự khinh an mà từ đó khởi sinh "tuệ" đều trong một mức độ nào đó tùy thuộc vào công đức. Chúng ta cần luôn luôn nhớ rằng, công đức mở ra các cánh cửa ra khắp mọi nơi. Nó tão ra khả năng, nó tạo ra các cơ hội. Có cái tâm trong mọi lúc đều nhằm tạo công đức là có cái tâm phát triển định và tuệ một cách dễ dàng.
Do đó rõ ràng nỗ lực thiền định trong khi luôn luôn giữ khát ái, những ưa thích và những căm ghét xưa cũ thì ít ra cũng làm cho đường tu của ta thành khó khăn, nếu không nói là nguy hiểm. Thiền định bao hàm sự từ bỏ (xả ly) và sẽ không có sự tu tập nào có kết quả, nếu ít nhất chúng ta không sẵn sàng nỗ lực chế ngự tham và sân, chận đứng dục vọng và biết được khi nào si đang che mờ tâm thức. Việc chúng ta thực hành xả ly được bao nhiêu, sự xả ly này liên quan đến sự thay đổi bên ngoài hay
không (như là trở nên một vị Tăng hay Ni) thì điều ấy tùy thuộc nhiều vào mỗi người và hoàn cảnh của người ấy, nhưng có một điều chắc chắn là việc xả ly ở nội tâm, thái độ từ bỏ liên hệ đến các bất thiện tâm và sự phóng dật của thân là tuyệt đối cần yếu.
Một nguy hiểm khác thường được nối kết với các nguy hiểm ở trên, đấy là trường hợp một người bỗng có cơ hội hành thiền một thời gian lâu hơn. Vị ấy ngồi xuống với quyết tâm vững chắc rằng: " Bây giờ ta sẽ thiền định". Nhưng dù sự tinh cần của vị ấy bao giờ cũng rất lớn, và dù vị ấy cứ ngồi cứ đi và đi, tâm của vị ấy vẫn còn bị rối loạn không an tịnh. Điều đó rất có thể là vì vị ấy cứ nhằm nỗ lực thật nhiều để đối đãi với những tán loạn của mình. Hơn nữa vị ấy phải biết rằng cần phải thiền quán để biết những giới hạn của căn tính mình. Đúng như một công nhân biết những giới hạn của sức mình và thận trọng không làm kiệt sức mình, người hành thiền cũng có khả năng thận trọng như thế.Với chánh niệm ta cần biết đâu là các cực đoan của lười biếng và sự gắng sức để tránh.
Chính vì quá gắng sức hay quá đẩy mạnh việc hành thiền mà nhiểu trạng thái rối loạn tình cảm phát sinh. Sự đột khởi của cơn giận dữ cao độ từ những sự đùa giỡn vô nghĩa, những khát vọng và những thèm muốn mạnh mẽ, những si ám lạ lùng và cả đến những tưởng tượng kỳ quặc, tất cả có thể
phát sinh từ sự tu tập hăng say một cách thiếu trí tuệ.
Vì tất cả những nguy hiểm kể trên nên ta cần phải có một vị thầy thiện xảo chỉ dẫn,giúp cho ta tránh được chúng cùng tránh được khuynh hướng sai lầm và nhờ đó ta thẳng tiến trên Con Đường đến Niết bàn. Những ai không có thầy thì cần phải hết sức thận trọng và biết chắc rằng việc phát triển tâm thức của họ quả là rất tốt đẹp. Nếu họ tỉnh giác và thấy rằng dù họ đã nỗ lực nhiều, việc hành thiền tu tập của họ vẫn không có sự thay đổi thực sự nào đối với đời sống của họ, như bên trong họ không được an tịnh nhiều hơn, hay bên ngoài mối liên hệ của họ với những người khác không trở nên tốt đẹp hơn, hế hiển nhiên là phải có cái gì sai lạc. Bấy giờ hãy gác thiền định lại trong một thời gian đã, trong khi ấy hãy nỗ lực tiếp xúc với một nguồn tài liệu chính xác, và tốt hơn là mời một vị thiền sư đang sống.
Ba phần vừa nghiên cứu; Phàm Tuệ, Giới và Định là những yếu tố được tìm thấy trong các tôn giáo lớn trong những mức độ đậm nhạt khác nhau. Điểm thật sự khác biệt trong giáo lý của Đức Phật là sở hữu một truyền thống Trí Tuệ phát triển viên mãn bắt đầu ở tầng bậc thứ nhất, mở rộng ra bằng sự tu tập thiền định và sẽ liên hệ đầy đủ trong chương kế.
Cái Trí Tuệ biết được một cách siêu thường, cái hiểu biết thâm sau nhất, cái trí tuệ như thanh gươm cắt đứt mọi trói buộc, cái Trí Tuệ vượt qua biển sinh tử, cái Trí Tuệ của lẽ không, cái Trí Tuệ của Bất Tử - phần bàn luận về Tối Thắng Tuệ này hẳn lại đúng chỗ của nó trong Con Đường thể chứng tức chương tiếp sau đây.