Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 12: Khổ Đau và hạnh phúc (Trang 39 - 56)

Khổ đau và hạnh phúc

Thế thì pháp khởi từ đâu? chúng ta đã được biết rằng Đức Phật đã dạy cho những ai muốn nghe, tùy theo năng lực hiểu biết của họ. Việc nhận thức điều ấy rất quan trọng vì nó đòi hỏi có khả năng rất đặc biệt nơi bậc Đạo sư, tức những Phương tiện Thiện xảo của Ngài mà chương ba của cuốn sách này sẽ nói đến nhiều hơn. Nếu không kể đến những phương tiện thiện xảo này thì người nghiên cứu giáo lý của Đức Phật qua kinh điển nguyên thủy có thể nhầm tưởng rằng đã có đủ mọi thứ mâu thuẫn trong đó. Cần hiểu một cách rõ rằng vấn đề quan trọng là những hình thức khác nhau của giáo pháp, hoặc được giảng cho một Tăng sĩ hay cư sĩ, cho người tín thành đối với lời dạy của đức Phật, hay cho người ngoại đạo, cho người kém trí, hay cho người Bà La Môn cuồng tín, hoặc cho một người nhiệt tình mong chứng nghiệm Giải thoát tối hậu ( Niết Bàn), hay cho người một lòng mong hợp nhất với Thượng đế (Brahma), cho người muốn tái sinh về cõi trời thấp hay tái sinh làm người.
Hai loại giáo pháp sau thuộc giáo lý về Giải thoát tối hậu hoặc nói đến mục đích thấp hơn, tái sinh làm người hay sống ở cõi trời đất khác là giáo pháp quan trọng đặc biệt vì ở đây chỉ rõ hai thái độ khác nhau một cách cơ bản đối với cuộc sống, đối với việc thực hành Giáo lý của Đức Phật hay Chánh
pháp và con đường đối trị khổ đau. Con đường thứ nhất được gọi là con đường dốc ngược, dốc đứng đòi hỏi một quyết tâm, một năng lực, một chuyên trì lớn lao. Đây là con đường để tìm thấy Giải thoát hay Niết Bàn trong đời này, cần phải có một sự xả ly ( thường thường cần phải có một vị Tăng hay Ni do vì đời sống của các vị thích ấn với tinh tấn), một cá nhân quân bình, và sau cùng quan trọng nhất là cần một vị Đạo sư Thiện hảo. Con đường dốc đứng này nằm trong nỗ lực của một số vị sư thuộc Thượng Tọa Bộ sống ở rừng sâu, sống trong một số Thiền Viện và nó cũng là một đặc trưng được nhấn mạnh ở Mật Tông Tây Tạng ( Kim Cang Thừa của Tây Tạng).
Con đường thứ hai là con đường đến Giải thoát một cách nhàn hạ hơn. Đây là lên núi theo lối đi dễ nhất mà không có lo âu đến việc bao lâu nữa sẽ lên đến đỉnh núi. Thông thường những người tu theo con đường này gồm đại đa số Phật tử, đặc biệt là cư sĩ, không mong cầu Niết Bàn trong đời sống này mà chỉ tu tập bằng vào việc làm các công đức ( xem chương II) bên cạnh việc tạo hạnh phúc cho chính họ tong cuộc đời này, tin chắc rằng hạnh phúc cũng sẽ theo họ đến đời sau và từ đời sống đó họ hy vọng có thể hoàn tất công việc còn dở dang trong đời sống này.
Vì thế trong các phần sau, chúng ta cần gi nhớ những gì đã nói về hai đường lối này. Dĩ nhiên hai
đường lối này không hoàn toàn tách biệt, bởi vì chư Tăng, Ni là những người lúc nào cũng tập trung vào việc thực hành Chánh pháp vẫn không xao lãng việc làm các công đức và dĩ nhiên nếu bảo rằng người cư sĩ làm những điều công đức không có liên hệ gì đến con đường tu dốc ngược thì cũng không đúng. Vì Đức Phật đã dạy đạo bằng nhiều cách khác nhau tùy theo khả năng của từng cá nhân, cho nên việc hành trì thì cũng phải tùy theo các năng tính và yêu cầu của từng cá tính của người ta. Có ghi nhận như vậy thì chúng ta mới có thể trở lại xét khởi điểm của Giáo pháp được.
  Chúng Ta đã thấy được tất cả các tôn giáo đều có một khởi điểm nào đó, trong hầu hết mọi trường hợp, khởi điểm ấy là một số những điều tin tưởng được định thức hóa theo một cách đặc biệt để trở nên một tín điều. Khởi đầu cuốn sách này đã lưu ý rằng Phật pháp không có giáo điều cũng không có tín điều buộc phải tin tưởng, nên mặc dầu Phật pháp có một hướng đi rất rõ rệt, hiển nhiên khởi điểm của Phật pháp vẫn khác hẳn với khởi điểm của tôn giáo khác. Phật pháp khởi đầu không phải từ sự đòi hỏi tín đồ phải tin tưởng mà từ cái kinh nghiệm phổ thông của mọi hình thái của cuộc sống, mà ở trong con người, kinh nghiệm ấy được trở nên sắc bén bởi sự tăng trưởng sức mạnh của các khả năng của con người - đó là cái kinh nghiệm về sự không toại ý
gây khổ đau, là sự hiểu biết rằng các sự vật có cái gì đó không đúng và các hoàn cảnh sống vẫn tiếp tục trôi chảy khi chúng đang được kinh nghiệm qua cái thân này, không đem lại được một sự an ổn lâu dài và bằng cách nào đó không làm thõa mãn cho người ta được.
Cái khổ đau này của cuộc đời vốn cũng dễ nhận thấy, giáo lý nhà Phật gọi là Dukkha ( từ anh ngữ tương đương nhất mà có thể bao gồm nghĩa rộng của thuật ngữ chính ở Pali, Sanskrit là unsatisfactoriness ( sự không thõa mãn), trong khi đó từ " suffering" là từ dịch rất sai lạc vì từ unsatisfactoriness và các từ chuyển hóa của nó vẫn còn rất vụng về, nên từ Dukkha (khổ) được dùng qua suốt chương này. Chúng ta cần khảo sát vắn tắt phạm vi của từ Dukkha để có một ý niệm về giáo pháp liều thuốc của đức Phật, đã được đặt biệt điều chế để chữa căn bệnh ấy như thế nào.
Đức Phật đã tuyên bố " sanh là khổ". Sanh có nghĩa là toàn thể quá trình từ khi thụ thai cho đến khi sinh ra, mọi người điều biết nỗi đau đớn người mẹ phải chịu đựng khi sanh. Nhưng rõ ràng mãi cho đến ít năm trước đây, không ai nghĩ rằng đứa bé cũng đau đớn. Quả vậy, đứa bé trải qua nhiều nỗi thống khổ hơn cả bà mẹ, toàn bộ công việc sinh đẻ là dau đớn đến nỗi có vài sự sai lầm nào đó, như tâm lý học hiện đại đã khám phá, thì có thể để lại
một vết hằn sâu tâm lý, một loạt chấn thương trong tâm lý đứa bé. Đức Phật từ xa xưa đã tuyên bố, từ ký ức của Ngài, về vô số sự ra đời rằng được sinh ra đó là một kinh nghiệm kinh hoàng, đến nỗi hầu hết người ta muốn quên đi, có một ý nghĩa khác là sinh thật sự là khổ (Dukkha) vì theo lời Đức Phật dạy, sinh và tử là những giai đoạn khác nhau của cuộc sống từ lúc này sang lúc khác. Ngay trong một cơ thể những tế bào mới được sản sanh để thay thế những tế bào cũ bị hư hại, cũng thế trong tâm thức, những đối tượng mới được đưa ra, được quan sát rồi chết đi. Cái dòng cố định này cứ tiếp tục ngày đêm, tiếp tục mãi, để rồi nếu ta thẩm xét nó kỹ càng ( bằng trí tuệ) thì sẽ thấy rằng nó là một căn bệnh thuộc kinh nghiệm, gây sầu khổ, tạo bất an và sau rốt đưa đến sự việc không được thõa ý bền lâu nữa. Trong một lúc kinh nghiệm, các sự việc khởi lên, tồn tại rồi qua đi và đây là một ý nghĩa của sinh tử mà ta có thể hiểu nó được nhờ thiền định thâm sâu và trí tuệ.
" Già là khổ". Điều này có lẽ rõ ràng hơn. Răng rụng, tóc mượt đẹp trở nên thưa và bạc, dạ dày biếng tiêu các thức ăn, thượng vị, các khớp xương đau nhức long lơi và các cơ bắp suy yếu, nghiêm trọng hơn các nỗi đau đớn vật lý ấy là những biểu hiện như mắt mờ, tai lãng, có lẽ mất nhiều giấy mới nói hết. Kinh hoàng hơn cả là khả năng nhận thức hay phản ứng
một cách thông minh của tâm trí bị tàn tạ, sự bám chặt vào thói quen và thành kiến gia tăng, không thích nhìn về đằng trước ( nơi mà cái chết nằm chờ) nhưng lại nhìn lui lại cái quá khứ đầy nhớ thương sâu đậm và đầy giả ảo chồng chất. Sau cùng người ta có thể ghi nhận rằng các tính chất suy yếu ấy của tâm lý được gọi một cách lịch sử là " thời kỳ thơ ấu thứ hai" và nói đúng hơn là sự " lão suy". Không phải mọi chúng sinh, mọi người điều bị ràng buộc vào những điều kiện này, nhưng càng về già chắc hẳn sẽ qua một số kinh nghiệm trên, những kinh nghiệm chỉ có thể là đáng chán ghét.
" Bệnh là khổ". Lại nữa không phải mọi người đều bị ảnh hưởng của bệnh trong đời sống, dù bệnh chắc chắn là khá phổ biến. Hãy xem cơ thể này, nó phức tạp biết bao, nếu cái thân này làm việc một cách êm xuôi ngay cả  đến năm phúc thì cũng đã là quá kỳ diệu chứ đừng nói là êm xuôi đến 80 năm. Một cái tuyến nhỏ hay một ít tế bào hư hỏng một nơi nào đó, bị lỗi nhịp thì biết bao đau đớn sinh ra. Hơn nữa, hầu hết mọi người đều không muốn nghĩ đến đều này nên họ càng đau khổ hơn biết bao nhiêu khi họ buộc phải đối mặt với nó. Để xác về quyết về tính phổ biến của bệnh, chúng ta chỉ cần nhìn vào các bệnh viện, hãy nói chuyện với các bác sĩ hay với các nữ điều dưỡng, hay mở cuốn sách giáo khoa về thuốc. Người ta có thể biết rõ nhiều
về vô số chứng bệnh và những chứng ấy lẫn vào trong mọi thứ tình trạng ngặt nghèo mà khoa học chưa thể tìm ra được nguyên nhân,ở đây cũng kể đến những chứng bệnh tâm thần do các gốc rễ rất mạnh của si muội pha lẫn hiều cách với tham ái và sân hậu gây nên.
" Chết là khổ". Thật sự rất ít người chuẩn bị sẵn sàng để chết. Người ta đều muốn sống, sống lâu hơn nữa, khoa học hiện đại đang làm cho ảo mộng đó có khả năng thể hiện hơn. Lòng ham muốn về cuộc đời càng ngày càng tăng nhiều được vơi nhẹ đi nếu người ta tin như nhiều người ở Viễn Đông vẫn tin, rằng đời sống này chỉ là một đời sống trong một chuỗi đời sống. Có rất nhiều đời sống thích ứng cho những ai tham muốn sống ( xem Tái sinh chương I ) và công việc được khởi đầu trong đời sống này không cần phải nóng nảy đi nhanh đến kết thúc mà có thể tiếp tục làm trong những đời sống kế tiếp. Những khổ đau thật sự của sự chết hẳn là rất nhiều và không phải mọi người đều trải qua những nổi thống khổ về vật lý. Còn có một nỗi sầu khổ về loại khác, đó là sự bức xúc kinh khiếp đặt trên tâm lý của người mà cơ thể đang chết, chống lại với ý muốn của người ấy. Đây thật sự là bằng chứng cuối cùng, chứng tỏ rằng cơ thể này không phải của tôi vì nếu nó là của tôi thì tôi có thể làm bất cứ gì tôi muốn về nó. Vào lúc chết, dù tôi muốn đời sống
tiếp tục, đời sống vẫn ra đi và cái chết vẫn đến, tôi không thể làm gì được về điều ấy. Nếu tôi đến cái chết mà không sẵn sàng thì vào lúc cơ thể đang chết, tôi sẽ chứng nghiệm một sự bất an đầy hãi hùng, kết quả của sự việc đã nhận lầm cơ thể này là " của tôi".
Tiếp theo lời tuyên bố của Đức Phật về khổ đau, là vài từ lẻ khác thật sự mở rộng lời dạy trên như: sầu muộn, bi ai, đau đớn thể xác, phiền não tinh thần, chán ngán ( đều) là khổ. Những từ này đã rõ ràng, không cần phải nói đến thêm sự việc. Đức Phật đã nói nhiều về sự kiện trên là để chỉ rỏ các khuynh hướng phổ thông của con người là cứ quay mặt đi mà không nhìn tới những sự việc như thế, là cứ dùng con mắt mù, cái tai điếc khi các đối tượng vẫn hiện ra, bảo cho biết những hiểm nguy của cuộc sống. Cái thái độ giống con chim Đà điểu này, bất hạnh thay, không thể loại bỏ những nguồn khổ đau (1). Nhưng đối với người Phật tử sáng suốt, tất

 

(1) Những điều đã nêu ở đây hẳn đủ để xóa sạch cho Phật giáo khỏi sự lên án thường bảo Phật giáo là sự bi quan. Giải thoát trong Phật giáo được phụ trợ bằng sự hiểu biết thực sự về sự sống trong cõi đời này, và để được như vậy là phải lưu ý đến khổ đau. Nhưng điều này, phải được nhắc nhở mãi, là một phương pháp để dạy chúng ta và chắc chắn không có nghĩa rằng kinh nghiệm khổ đau là một chân lý tối hậu của cuộc đời như học thuyết bi quan bảo. Vả lại, đây chỉ là một phần, dù là một phần quan trọng, trong các Giáo lý của Đức Phật và có rất nhiều biểu thức tích cực để gia tăng sự thiện xảo trong bản chất của chúng ta - xem Ba Tu tập và Mười Ba La Mật.
cả những kinh nghiệm này, từ bên trong hay bên ngoài, đều được hiểu như là " những thiên sứ". Đó là những dấu hiệu hữu ích cho người ấy để thực hành Phật pháp.
Bậc Giáo ngộ dạy tiếp: " Phải nối kết với gì ta không thích là khổ" ( oán tăng hội khổ) và ngược lại " Phải lìa xa cái gì ta thích là khổ" (ái biệt ly khổ).
Hai hoàn cảnh này đối với hầu hết mọi người như là những người bạn đường chung thủy qua suốt cả cuộc đời của họ. Các sự việc hình như không bao giờ thuận hợp cả, hoặc là chúng ta được những gì mình không thích, hoặc chúng ta thiếu mất những gì mình thích. Ở đây đức Phật đã chỉ rỏ cho chúng ta rằng cứ chạy theo những điều ưa ghét rốt chẳng bao giờ chầm dứt ấy, chúng ta sẽ không cảm nhận một hạnh phúc có giá trị lâu bền. Những gì mà chúng ta có được do sự chạy theo ưa ghét ấy chỉ là điều thất vọng lớn hơn, một sự căng thẳng cứ càng mạnh thêm giữa hai thái cực tham và sâu. Không bao giờ chúng ta có thể tìm thấy, dù qua suốt bao nhiêu kiếp, một tình trạng ổn định nào mà ở đó vắng mặt những gì mà ta không thích ( người, hoàn cảnh, v.v ) và có mặt những gì ta ưa thích, nếu khảo sát thật kỹ một tình trạng sống, ta luôn tìm thấy một cái gì phiền não, bất toàn ở đó.
"Không được những gì ta muốn là khổ". Nếu cho rằng hễ mọi mong muốn của người ta đều được thỏa mãn thì người ta sẽ hạnh phúc thì quả là si ám quá chừng... Có một ít người đang ở trong hoàn cảnh có thể được thỏa mãn như thế, nhưng những người này, những người triệu phú và những người tương tự cũng không được xem là kẻ hạnh phúc nhất trong loài người. Họ có thể có những gì họ mong muốn về phương diện vật chất còn những gì thuộc về điều kiện thể xác hay tinh thần thì sao? Cũng cùng chung như những kẻ còn lại của loài người nghèo hơn họ, thì dù là triệu phú, ho cũng không thể ra lệnh "Đừng để cho lo âu phiền muộn, khó khăn, bệnh tật, tuổi già, cái chêt (hay sự sinh) đến gần ta!". Những phương diện ấy của kinh nghiệm  không do túi tiền lớn hay nhỏ kiểm soát mà chỉ do sự điề u ngự tâm kiểm soát mà thôi. Đây lại là một kinh nghiệm chung của đại đa số những người không đạt được những gì mà họ ham muốn. Ham muốn của họ để lại đau khổ và ngay cả khi họ đạt được những gì họ muốn, họ cũng nhận thấy họ không thật sự hoan lạc một cách bền bỉ. Niềm hoan lạc do những gì họ mong ước mà được cũng mong manh (người ta không còn có sự phấn chấn của "sự mong  muốn" nhữn gì chưa có được) và ở bất cứ trường hợp nào, đối tượng mong ước cũng là vô thường. Sự "làm thỏa mãn" những ham muốn bằng sự sở hữu các đối
tượng ham hố đã được Đức Phật ví như một người uống nước mặn để làm thỏa mãn cơn khát của mình.
"Năm uẩn là khổ". Năm Uẩn này là nhằm vào một cách phân tách cái nhân cách toàn thể của chúng ta. Đó là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Chúng ta bị trói buộc vào năm uẩn này và thủ chấp chúng ngay chúng ta đầu thai (thác thai). Chúng ta đã chấp thủ vảo những uẩn của con người tùy theo kết quả của những hành động của chúng ta (xem nghiệp và nghiệp quả) và chúng ta tự nhận diện mình không phải chỉ với sắc uẩn mà cả những uẩn thuộc  về  tâm  nữa. Các loài chúng sanh khác thì thủ chấp các uẩn của loài thú, các uẩn có trong đời sống của một vị thiên, v.v. Nhưng luôn luôn có một sự chấp thủ và một sự bám chặt vào những gì mà chúng ta quá mê muội mà nghĩ tưởng rằng đó là "tôi" hay "của tôi". Sư thủ chấp này lan rộng khắp mọi loài đời sống (sinh thú) và là cái sai lầm căn bản, cái lầm lẫn lớn từ đó khởi sinh hết thảy mọi phiền não của chúng ta. Để lấy một ví dụ đơn giản có thể minh chứng dễ dàng, thử xem những thủ uẩn ấy có khổ hay không: hãy quyết định, hỡi các bạn của cuốn sách này, vào lúc bạn đang ở trong hoàn cảnh thích hợp, chẳng hạn như ngồi yên lặng trong một giờ. Hãy quan sát những gì xảy ra: Sau 5 phút, một con ruồi đậu trên mặt bạn và bạn muốn phủi nó đi; sau 15 phút, bạn cảm thấy ngứa ở chân và bạn
muốn gãi; sau 25 phút bạn cảm thấy mỏi cổ và muốn vận động cổ và bạn có thể bỏ cuộc sau chừng nửa giờ, khi những khớp xương bắt đầu đau hay chân bắt đầu tê, hay một cái gì đó tương tự. Do tung tăng suốt ngày và khiến cơ thể hoạt động hoài nên chúng ta tránh được cảm nghiệm khổ đau kèm theo đấy (nhưng thay vào đó chúng ta lại cảm nghiệm khổ đau khác). Hoặc  giả nếu chúng ta muốn ó một kinh nghiệm thực tế hơn, thì khi bạn ngồi ở một nơi vắng lặng, hãy quyết định tập trung hết ý thức của bạn trong nửa giờ, thế ròi bạn tự nhìn thấy tâm "của chính bạn" đi lang bang trái với quyết định "của chính bạn" như thế nào. Đó là  một đau khổ tinh tế hơn. Hãy xem Đức Phật, dù Ngài ngồi trong bảy ngày và không dao động, Ngài vẫn hưởng thụ được  hạnh phúc tuyệt đối từ sự thực hành Thiền định của Ngài. Các Đại hành giả chuyên Thiền định hiện nay đang còn sống cũng giống hệt như thế, họ không cảm thấy thân thể của họ hay các uẩn khác gây phiền não chỉ vì các hiền giả ấy đã loại khỏi tâm họ sự thủ chấp rồi.
Nhưng, chắc rằng các độc giả có thẻ phản đối: Có nhiều thứ thích thú và đẹp đẽ trên đời. Đúng là có nhiều thứ thích thú và đẹp đẽ, nhưng chỉ đúng trong một ý nghĩa tương đối và giới hạn (xem phần Điên Đảo). Hai sự kiện liên hệ điều ấy cần phải xét tới là:
1. Những kinh nghiệm được xem như thế nếu người ta lướt qua ở bề mặt cuộc sống mà không khảo sát kỹ lưỡng.
2. Lạc thú sinh khởi từ những kinh nghiệm ấy là tương đối vì sự sinh khởi của nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố (duyên). Việc thưởng thức một cuốn phim tùy thuộc vào diện, nhựa phim, máy chiếu phim, người phụ trách chiếu phim, màn bạc, ánh sáng, mắt, nhãn trần ( cảnh chiếu trong phim), nhãn thức - danh sách các yếu tố có thể kéo dài vô tận. Lạc thú ấy là giới hạn, bởi vì khởi đầu vào một lúc nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó và kết thúc vào một lúc nào sau đó. Vậy thì các loại lạc thú cao nhất trong đời (dù theo nhiều cách, người ta xem chúng thuộc loại nào đi nữa) hẳn phải đi đến một kết thúc, sau đó dù nó là lạc thú cao nhất tùy theo sở thích của người ta, hẳn nó phải được tiếp theo trong kinh nghiệm của người ta bằng một lạc thú kém hơn, nếu không phải là được tiếp theo bằng một đau khổ thực sự. Đức Phật đã dạy rõ rằng ngay cả lạc thú của ta cũng thực sự là khổ, điều ấy rất dúng vì những lạc thú ấy là vô thường, khoong tạo được sự thỏa mãn dài lâu mà lại cứ gia tăng khát vọng của chúng ta về những lạc thú cao xa hơn.
Không nên nghĩ rằng đây là một điều làm nản lòng, vì Đức Phật đã có những lý do xác đáng khi
dành cho khổ (dukkha) một vị trí nổi bậc trong giáo lý của Ngài. Trước hết khổ đau được kinh nghiệm bởi mọi chúng sanh, chứ không trừ một chúng sanh nào và đó là sự thật cho mọi lúc, mọi nơi. Thứ hai, đã thuộc kinh nghiệm mà cứ cố gắng không biết tới khổ đau như hầu hết mọi người thường làm là một sai lầm nghi hại.
Ví dụ: Ở xã hội cao quý, người ta không nói chuyện về chết chóc một cách thẳng thắn. Người ta có thể bị nghĩ là "kỳ dị" hay là một anh đạo khùng và bất cứ khi nào vấn đề chết chóc được bàn đến  thì mọi người sẽ yên lặng, trở nên khó chịu và vội vã xin lỗi để từ giã nhóm người mà họ không ưa thích. Tất cả như thế chỉ vì có những sự kiện không thể tránh được mà người ta không chịu đối mặt mà cứ nổ lực để chôn vùi chúng. Thứ ba, thường người ta, thực ra cũng như mọi chúng sanh, luôn luôn tìm kiếm lạc thú và lẩn tránh khổ đau. Họ cứ miệt mài như thế trong cái thế giới nhỏ nhoi, ích kỷ của riêng họ và mặc dầu nổ lực của họ thường là vô ích, họ vẫn cố gắng sắp đặt thế giới ấy theo cách mà họ muốn. Thứ tư, điều này đưa đến sự làm tăng thịnh " cảm giác vể tôi" và làm cho nhiều thứ hơn thành ra " của tôi", điều này trái hẳn với con đường chứa hạnh phúc thực sự. Năm uẩn không chứa đựng cái " Tôi" ( linh hồn, ngã, Tự ngã, .v.v.) nào cả, và hạnh phúc sinh ra từ sự nhìn thấy điều này bằng trí tuệ. Thứ
năm, người ta phài sống ở đời với những người khác, những người cần được chú ý rằng: làm thế nào để họ được hạnh phúc? Người ta sẽ không bao giờ làm được điều đó trong khi những ý tưởng về " tôi" và " của tôi" và tất cả những cái phức tạp sinh ra từ đó vẫn là những mê muội bắt rễ một cách mạnh mẽ ở trong tâm thức. Thứ sáu, mọi khổ đau này sẽ không cần thiết, không cần kinh nghiệm nó nếu người ta từ bỏ được khát ái và vô minh. Vì khát ái và vô minh là những vấn đề trọng đại của tinh thần, được vô lượng kiếp trước làm cho mạnh thêm ( xem Tái sanh) và nay vẫn tiếp tục được tăng cường bởi nhiều ham muốn của chúng ta , nên Đức Phật vạch ra một Con đường trực nhập vào vùng sâu thẳm của tâm ta. Một Con Đường dẫn dắt liên tục nhờ thanh tịnh do giữ giới, nhờ tĩnh lặng tâm thức do hành thiền định và giài thoát hoàn toàn khỏi những trói buộc như là vô minh, khát ái, nhờ tuệ giác.
Cho nên Đức Phật dạy rằng: " Các người là những phàm nhân ( tức chưa giác ngộ) và chứng nghiệm vô thường. Khổ đau vì sự vô minh và sự thúc đẩy của khát ái. Và các người vì vô minh và khát ái nên tin tưởng rằng người, vật, nơi chốn và hoàn cảnh thường hằng và có thể cho các người hạnh phúc chân thật ( xem phần bàn về Điên đảo). Nhưng Như Lai dạy rằng các người chớ có nổ lực lẩn tránh việc nhận diện khổ đau vô thường, mà cần
phải vun trồng nhận thức của mình về nó để đúng thời đi đến hiểu cái khổ đau này và chú tâm trọn vẹn đến nó. Vì các người bị điều động bởi khát ái nên sau khi trau  dồi nhận thức về khổ đau, các người sẽ hiểu rằng do bởi khát ái, khổ đau đã sinh khởi theo đó như thế nào. Tức là: ở đâu có khát ái, ở đó có khổ đau. Thể nhận được như thế, các người sẽ từ bỏ được ngay cả những tư tưởng đã bám rễ sâu xa mong được cái thường hằng và hạnh phúc bằng những con đường sai lạc. Do đó mà Như Lai đã dạy rằng "  các người phải nhận thức rằng các hành là vô thường và khổ đau" ( xem chương I Tam pháp ấn chương III tuệ giác Ba La Mật).
Làm được điều đó, các người sẽ hoàn thành được một phần đáng kể về Phật đạo. Nhưng cần phải thực hiện hơn thế nữa kia. Chỉ thông hiểu khổ và sự sinh khởi của khổ thì chưa đủ, các người cần phải thấy được sự chấm dứt khổ và phải nhờ tu tập mà biết được con đường đưa đến chấm dứt khổ". Đây cũng là kinh nghiệm Hạnh phúc Tối cao, tức là Niết Bàn ( xảy ra đồng thời với sự chấm dứt khổ) và sự sinh khởi của Niết Bàn ( mà vì ngôn ngữ giới hạn để diễn tả kinh nghiệm đó ở đây, Niết Bàn có vẻ sinh khởi một cách tùy thuộc, mặc dù Niết Bàn là pháp Vô vi, thực sự sinh khởi theo cách đó). Mỗi người sẽ trở thành một bậc Thánh và nhờ Tối Thắng Tuệ mà thể nhận được cái Chân lý vĩ đại
của Vô ngã. Do đó mà Như Lai dạy các người phải thực sự lãnh hội rằng: " Tất cả các pháp đều Vô ngã", đây quả là một sự thể nhận về không" ( xem chương III).
Hàng phàm phu nhận thức, hay cần phải nhận thức và phải được khích lệ hiểu biết những điều kiện Vô thường và Khổ đau để họ khởi sự trừ bỏ những bám chặt của họ về cuộc đời. Nhận thức của các Bậc Thánh mà Như Lai là Tối Thượng thì không bị cấu nhiễm bởi vô minh và khát ái. Vô thường và Khổ đau chỉ hiện hữu với những ai bám chặt vào thanh sắt nung đỏ của khát ái và các Bậc Đạo sư thường tưởng đến đám người bình thường, những người mà các Ngài thấy một cách rõ ràng rằng họ tự  làm tổn thương một cách mê muội. Vì lòng từ bi đối với họ, các Bậc Đạo sư đã dạy giáo pháp nhấn mạnh khổ đau, vì đây là con đường chắc chắn cho họ đi mà tự khám phá ra rằng họ đã từng mê muội làm sao. Thế nên Đức Phật đã dạy Tứ Thánh Đế, giáo lý thực dụng đặc biệt, sợi chỉ dạy thông suốt qua những Giáo lý của Ngài: khi sự kiện " X" hiện hữu thì sự kiện " Y" sinh, khi sự kiện " X" diệt thì sự kiện " Y" diệt. Thể cách duyên sinh của Khổ đau, rất nổi danh khắp thế giới Phật giáo, thường được diễn tả như sau:
- Thánh Đế về khổ
- Thánh Đế về tập
Khổ đau và sự sinh khởi của khổ đau.
- Thánh Đế về diệt khổ ( Niết Bàn)
- Thánh Đế về đạo dẫn đến diệt khổ ( Trung Đạo của việc tu hành)
Hạnh phúc ( Sukkha) sự sinh khởi của hạnh phúc.
Tất cả đều như đã rõ ràng, chỉ phiền một nỗi là trong khi bốn Thánh Đế rất dễ hiểu thì những chướng ngại về tình cảm ngăn chận ta lãnh hội được ý nghĩa thực sự của bốn Thánh Đế ấy. Ví dụ: 1/ Chúng ta không để ý đến tình trạng hoàn toàn khổ đau của phần lớn đời chúng ta và vì vậy chúng ta không thực hiện những bước đi cần thiết để trừ bỏ khổ đau. 2/ Chúng ta vốn thật đã bị vướng mắc vào khát ái cho nên chấp nhận bằng lý trí chưa đủ, chúng ta phải đốn ngã những trói buộc. 3/ Về Diệt đế, hình như nó thực xa là xa, vì nếu đây là cảm nhận của chúng ta về Niết Bàn thì nó chỉ cho chúng ta bao nhiêu việc phải làm để " đạt đến đó", vì, một cách rốt ráo, Niết bàn không ở đâu cả, ngoài cái ở đây và bây giờ. 4/ Một người bỉnh thường với một người tu tập rất tinh cần cũng chỉ thực hiện được một phần Đạo đế trong một lúc nào đó thôi, trong khi đó đối với một Thánh nhân với tuệ quán toàn hảo, thì sự thể hiện Đạo đế trọn vẹn là rất tự nhiên, không cần thiết có một sự hạn chế hay nỗ lực nào.
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »