Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 14: Tái sinh (Trang 64 - 75)

được cái sức mạnh to lớn của lòng tin chuyển núi và chắc chắn có thể vượt qua những trở ngại lớn lao, miễn lòng tin sáng suốt vào Phật, Pháp, Tăng, được thiết lập vững chắc.

Tái sinh
Trước đây đã nói đến những hiện hữu của những đời sống trước đời sống này mà một người có thể nhớ lại được nếu người ấy tu tập tinh thần một cách đúng đắn. Đức Phật và nhiều Thánh giả trong truyền thống của Ngài đã nhớ lại những tiền kiếp và hơn thế nữa, thấy được nghiệp sinh ở kiếp này và thành quả của một kiếp khác như thế nào.
Giáo lý về một tương tục của các đời sống này không phải chỉ riêng có trong Phật giáo mà nó cũng được chấp nhận trong Ấn Độ giáo, Kỳ Na giáo, và trong tôn giáo của người Sikh. Dù không chính thức, từ lâu nó vẫn là một dòng ảnh hưởng ân thầm mạnh mẽ trong Hồi giáo, trong Thiên Chúa giáo ( Ôrigen và phái Tri luận) và nổi rõ trong Tân Khổng học và Lão học. Trong Thiên Chúa Giáo, nó chưa hề được Giáo Hội chấp nhận, tuy rằng nó có thể từng được Jesus nói đến và hình như ngay cả trong Cộng đồng Constantinople, CE.553 nó cũng chưa từng được tuyên bố là một điều cấm kỵ đối với tín đồ Thiên Chúa giáo.
Có bằng chứng trong kinh Thánh Thiên Chúa giáo, chẳng hạn trong phần Mark 8-27-30: " Và Jesus ra đi cùng môn đệ của Ngài, vào đến thành phố Caesarea Philippi: và nhân đó Ngài hỏi các môn đệ: " Người ta bảo ta là ai?" Và họ trả lời: " Là John Baptist. Nhưng một số người họ bảo thấy là Elijah; và những người khác lại bảo thầy là một trong những bậc tiên tri". Nếu người ta không thể tin vào sự nhương thân trở lại (re-incarnation) thì tại sao người ta lại bảo Jesus là Elijah, người đã chết trước đó hàng mấy trăm năm hoặc là một trong những vị tiên tri cố lão kia, hay ngay cả John Baptist, một người vửa mới chết trước đó? Một số rất lớn tín đồ Thiên Chúa giáo không quan tâm đến giáo điều chính thức đã nhận thấy rằng giáo lý trên vừa hữu ích vừa hợp lý và dễ chấp nhận hơn một lý thuyết  về một đời sống trên  trái đất mà tiếp sau đó la hạnh phúc hay khổ đau đau đời.
Rõ ràng một giáo lý bảo rằng sinh là tùy thuộc vảo những hành động tác ý ( nghiệp) của một cá nhân tất có một ý nghĩa nào đó. Nó tạo giá trị cho đời sống và mang lại một ý nghĩa công bằng cho những nơi mà hình như đang ở trong tình trạng rối rắm của bất công. Nếu người ta muốn biết tại sao người làm ác lại hạnh phúc và giàu có, trong khi người thiện lại kêu than bị khổ sở nhiều cách thì điều này cũng được trả lời bởi lời dạy về nghiệp và
tái sinh, vì như đã nói, không phải tất cả các hành động tác ý đều có kết quả tức thời.
Giáo lý về tái sinh không những có giá trị đối với những ai muốn công bằng trong thế giới này mà có một ứng dụng thực tiễn nữa. Khi dạy cho những ai chấp nhận tái sinh, Đức Phật làm cho lòng tin họ mạnh hơn, nhưng khi dạy những ai còn nghi ngờ, còn vấn hỏi thì thay vì đòi hỏi họ chấp nhận rằng tái sinh là sự thật, Đức Phật dùng " lập luận đánh cuộc". Theo cách này Ngài tập trung giá trị của giáo lý bằng việc nhấn mạnh những lợi ích thực tiễn ở đây và bây giờ. Những lợi ích ấy có hai: một thứ liên hệ với quá khứ và một thứ liên hệ với tương lai.
Như thế, giả thử rằng đời trước là có thật và những khổ đau hiện tại là kết quả từ những hành vi bất thiện trong các đời quá khứ ( khi mà ta không tìm thấy liên hệ nhân quả của những khổ đau ấy với những hành vi sai lầm trong đời sống hiện tại) thì sự chấp khổ đau như là chứng bệnh nghiêm trọng sẽ làm ta thấy dễ chịu hơn nhiều và người bị khổ khỏi phải khởi lên cái suy nghĩ đắng cay: Tại sao khổ đau này lại xảy đến cho ta? Đó cũng là một khích lệ lớn để nỗ lực giữ Giới ngay bây giờ và để phát triển tâm thức bằng thiền định. Giả sử rằng tôi đã đi trên bánh xe tái sinh chán ngán trong một khoảng thời gian vô tận và tôi đang thích tiếp tục tái
sinh nữa, điều này há lại không khích lệ ta làm một cái gì trong cuộc đời này cho việc tái sinh?
Lại nữa, giả tỷ rằng những đời sống tương lai phải là số phận của tôi thì quả thật là điên rồ mới không sữa soạn gì cho tương lai. Nếu người ta chắc chắn sẽ tiến lên các tình trạng cao hơn từ đời sống này sang đời sống khác thì người ta mới có thể ngồi dựa lưng một cách thoải mái được, nhưng sự thật vẫn là số phận của mỗi người nằm trong tay của chính mình. Nếu tái sinh là có hay không thì cũng chẳng mất mát gì khi chúng ta sống một đời sống thiện lành tại đây và bây giờ mà không bị kẻ khác phiền trách. Thấy đủ khổ đau trong đời này và có được sự hiểu biết về ý nghĩa của khổ đau, người ta có thể vượt qua những bức tường tù ngục của sinh tử.
Thế nên, chúng ta sẽ chấp nhận ngay trên những nền tảng thực dụng này rằng đã có những đời sống quá khứ và hẳn cũng có các đời sống tương lai.
Sự kế tục đời sống với một linh hồn gá vào trong một chuỗi các thân xác thường được gọi là nương thân trở lại ( re-incarnation). Trong Phật giáo, lời dạy liên hệ đến vấn đề này thì khác biệt từ nền tảng, ở đây chúng ta gọi nó là tái sinh (1).

 

(1) Không có sự tái nương thân trong Phật giáo vì không có cái thực thể tâm linh bất biến; rốt ráo không thể thấy có linh hồn nào có thể tái nương thân. Phật giáo không phân hai con người, một bên là thân
Mọi người đều đồng ý rằng có thể ta thay đổi từng giờ, từng phút, liên tục bị tàn tạ và được thay đổi lại. Nếu người ta dừng một chút để suy nghĩ ta sẽ thấy, thực ra tâm cũng thế, nghĩa là dòng suối của ngôn ngữ và ảnh tượng của tâm thức tiếp tục  trôi chảy mãi. Vậy nên bằng trí thức, chúng ta rất dễ hiểu ý nghĩa vô thường của các tâm và thân. Còn đối với linh hồn thì thế nào? Ở đây, ta nên phân biệt khái niệm thông thường về Ngã (cái tôi) được mọi người cảm nhận dù quan điểm của người ta như thế nào đi nữa, và triết thuyết của các nhà thần học xây dựng một hệ thống để bảo vệ cái cảm nhận về " Ngã" và để hỗ trợ  cho các giáo điều tôn giáo mà họ nghĩ là thật. Cả hai quan điểm này, tự nhiện và ngụy biện, đều đặt nền tảng trên hệ Ngũ Uẩn bao gồm toàn bộ bản chất con người ( xem ở trên, phần nói về Khổ). Sự cảm nhận tiên thiên  rằng con người có linh hồn và Thọ uẩn. Những quan điểm nhận thức về linh hồn thuộc Hành uẩn. Các uẩn này là vô thường nên không có nền tảng để giả định rằng có một thực thể hay linh hồn bất biến. Một giả định như thế bị Giáo lý của Đức Phật lên án rằng nó chỉ là
 

thể bị tàn hoại và một bên là linh hồn bất diệt. Tuệ giác của Đức Phật phát hiện ra rằng cả tâm lẫn thân đều liên hệ hỗ tương và đều là những dòng chuỗi biến đổi liên tục của các sự việc, trong đó không thể nào có cái linh hồn hay cái ngã bất biến như là một nguyên lý tối hậu. Các đoạn sau đây sẽ bàn sơ về sự việc có thể có tái sinh mà không có một thực thể như thế.
những suy luận trống rỗng đặt căn bản trên khát ái, nhưng lại không có nền tảng khi nó được khám phá bằng Tối thắng Tuệ.
Nhưng về mặt chân lý tương đối, thì " cái Tôi" có mặt: có một sự tương tục cứ tiến hành từ ngày này qua ngày khác và tôi và những người khác được nhận diện bằng cái tên này tên nọ. Lại nữa, sau khi suy nghĩ, " cái tôi" khi tôi lên ba (cái ảnh chụp vào buổi đó biểu hiện gương mặt phúng phính), và " cái tôi" khi tôi ba mươi tuổi có một ít na ná và trong khi hai cái Tôi ấy rõ ràng không hoàn toàn khác nhau thì chúng rõ ràng phải là một. Ở đây, chúng ta có thêm một yếu tố soi sáng cho luật " yếu tố X có mặt thì yếu tố Y sinh khởi". Do sự hiện hữu của đứa bé lên ba kia mà con người ba mươi tuổi này đây có mặt. Quá trình duyên khởi này không phải chỉ tiếp tục từ lúc này sang lúc khác mà chỉ thể hiện từ một cái chết của một " cá nhân" cho đến sự tái sinh của " cá nhân " kế tiếp. Như vậy tùy thuộc vào chúng sinh nào đó ở đời trước mà một chúng sinh đời này hiện hữu.
Cái quá trình này của tái sinh thực sự vận hành như thế nào? Nếu người ta hỏi một người sắp chết, người ta thường nhận ra rằng, người ấy không muốn chết. Không, người ấy chỉ muốn sống... Còn có cái bắp cải của mùa xuân phải trồng, còn có người láng giềng để nói chuyện, còn có người cháu trai ở tỉnh lỵ
xa để đến thăm, còn có một cuốn sách khác để đọc... Có rất nhiều điều để làm đến nỗi rất ít người thực sự sãn sàng để chết một cách êm đẹp và từ bỏ tất cả các việc đời mà họ không còn gì để nói đến nữa, để đi đến cái chết và đi vào cuộc sống tương lai một cách hoàn bị. Một người dù đứng ở ngưỡng của tử thần, đầu óc vẫn đầy sự quan tâm trần thế, ham muốn dục lạc và sự hiện hữu đời sau trong dục giới. Một người chết mà trong tâm vẫn cầu mong được sinh thiên thì thực sự chờ đợi những lạc thú trần tục khác và do đó có sự ham muốn được sống trong một cõi trời. Bằng cách nào thì cũng ham muốn có đời sống tương lai.
Sự ham muốn một đời sống khác ấy lên cao đến cực điểm, khi các cảm thọ mất đi và cơ thể không còn hoạt động tương thích, kèm theo một sức mạnh chưa tiêu hao của nhiều hành động mà kết quả các hành động ấy sẽ còn phải được cảm nghiệm tiếp tục.
Con người vào lúc lâm tử có thể nhận thấy nhiều dấu hiệu khác nhau: người ấy có thể tự thâm tâm thấy được chiếu rọi bằng mọi ánh sáng vô giới hạn và rực rỡ của Cứu cánh hay Niết bàn - một sự chói sáng, rực rỡ hơn cả trăm triệu mặt trời. Nhiều người suýt chết (thoát khỏi chết đuối hay từ một cuộc giải phẫu ở bệnh viện) đã mô tả một kinh nghiệm như thế. Quả thật, họ thường thiếu sự chuẩn
bị kỹ tâm thức để lợi dụng cái kinh nghiệm lướt qua ấy, họ tập trung vào việc triển khai một cuộc sống mới đến nỗi lo sợ phát sinh và họ xao lãng mất cái cơ hội lớn lao này để đạt Niết Bàn, cái kinh nghiệm siêu thế ấy tiêu tan đi trong khi, phải nói thế, họ chìm nhanh xuống để vùi dập mình trở lại một hiện hữu trần thế nào đó.
Tiếp theo kinh nghiệm về không này là các dấu hiệu hoặc là những biểu tượng của quá khứ hay là những dấu hiệu báo trước tương lai. Một người có thể thấy một biểu tượng của một biến cố nào đó trong đời sống quá khứ của mình ( như chiếc nhẫn cưới biểu tượng hôn nhân, bát cơm biểu tượng lòng quảng đại trong việc cho thức ăn) hay có được thấy một ký ức hình ảnh về sự việc nào đó xảy ra trong đời sống ấy. Những biểu tượng này có ảnh hưởng lớn đến đời sống kế tiếp và một người chết đi mà mang một biểu tượng ký ức bất thiện làm đối tượng cho ý thức của mình ( như nhớ lại một sự man trá nào đó mình đã làm, hay một sự giết người) thì người ấy bị ràng buộc vào một sự tái sinh phù hợp với ý thức ấy. Vì ý thức ấy liên hệ với những điều bất thiện nên sự sinh ra tong tương lai sẽ mang khổ đau     ( xem dưới đây). Trái lại, lúc đang chết mà khởi lên được những tư tưởng thuộc tín ngưỡng hay thuộc sự hồi niệm các thiện hạnh mình đã làm thì sẽ được tái sinh vào một cảnh giới mà các thiện sự chiếm ưu thế, nghĩa là được sinh vào trong
hạnh phúc của cảnh giới mà ta gọi là cõi trời. Vào một lúc như thế, một người đang sở hữu cái thân tinh tế cũng có thể trông thấy một đôi nam nữ đang giao cấu  và bị thu hút vào những người đó, thế là người ấy bị cuốn hút và phải chịu khổ đau trong đời sống bào thai và sau cùng chịu khổ về sinh ra đời.
Như thế người ta đi tới tùy theo công hạnh của mình và vì hiện hữu trong những trạng thái lạc, những trạng thái khổ cũng vô thường như nhau, cho nên sinh này tiếp theo sinh khác, khi thì lạc khi thì khổ, khi thì không lạc không khổ. Tùy thuộc vào đời sống của một "cá nhân" trước đây mà chúng sanh hiện tại có mặt; tùy thuộc vào cái nghiệp giờ đây của chúng sanh hiện tại mà một "con người" tương lai sẽ ra đời. " Tôi" trong hiện tại không phải chính là cái chúng sanh trong quá khứ, cũng không phài là khác với nó, nhưng tùy thuộc vào nó mà " Tôi" đang hiện hữu. Cứ như thế, dòng tương tục của hiện hữu vẫn trôi lăn.
Một câu hỏi cũng thường được nêu lên: " Nếu tôi có một hoặc nhiều đời sống quá khứ thì tại sao tôi lại không nhớ được chúng?" Câu hỏi này được giải đáp rõ ràng bằng những giải thích về năng lực của ký ức. Trước hết, bạn có nhớ được một cách " chính xác" những gì xảy ra từng phút của ngày hôm qua không? Ký ức đó là Tưởng uẩn trong Năm uẩn, quá yếu
kém đến nỗi phải đưa ra một câu phủ định để đáp câu hỏi này. Làm sao người ta có thể nhớ những sự việc xảy ra nhiều năm trước đây? Lại nữa, ký ức là một chỗ tựa của ngã chấp, chỉ ghi nhận một số sự kiện, quên đi một số những sự kiện khác và làm méo mó ngay cả những sở tri tiếp thu được. Hãy hỏi một người trọng tuổi, thời tiết thế nào khi ông còn trẻ, chắc chắn ông sẽ tuyên bố rằng thời tiết ấy sẽ tốt hơn bây giờ, các vụ gặt tốt hơn, mùa hạ dài hơn, mùa mưa nhiều hơn và v.v. Những ghi nhận của đài khí tượng sẽ chứng tỏ ông ta sai - thời tiết hồi đó rất giống bây giờ, nhưng ký ức của ông đã tiện quên đi những cơn mưa không ưa thích hoặc cái lạnh khắc nghiệt, thưc ra, ông quay nhìn về một " thời vàng son" tưởng tượng, một đặc trưng của ký ức con người là ghi nhớ những gì hạnh phúc và quên đi những gì bất hạnh, mà tạo ra một hình ảnh méo mó về thế giới. Một kinh nghiệm đặc biệt khổ đau chóng được quên đi và được chóng phủ lên bởi những cảm thụ kế tiếp là ký ức về sự ra đời. Đây là một kinh nghiệm đau đớn dữ dội của một đứa trẻ, như tâm lý học Phật giáo luôn luôn dạy và như sản khoa hiện tại gần đây đã xác nhận. Trước khi sinh, sự có mặt ở thai cung vốn không phải là nơi ẩn náu rất an toàn, thoái mái như một số nhà tâm lý gia quả quyết, là thời kỳ đáng sợ cho cái thai, lúc ấy không phải chỉ là một cơ cấu vật lý bé nhỏ mà là một chúng sanh,
chúng sinh ấy lúc ấy thường có các ký ức chưa phai mờ về đời sống trước, có lẽ là đời sống sung sướng hơn cái hoàn cảnh xung quanh như nhà tù mà chúng sanh ấy đang ở. Lui lại xa hơn một chút là lúc tượng thân, như đức Phật dạy, không phải chỉ cần có những phân tử vật lý của người đàn ông và người đản bà mà còn có chúng sanh ( với một cái thân tinh tế) đi tìm sự tái sinh nữa.
Chúng ta đang nói về các sự kiện ngăn chặn phần lớn người ta nhớ lại các đời sống quá khứ, bây giờ chỉ có thể nói đến những nỗi thống khổ về cái chết để thêm vào những nỗi khổ đau khác đã đề cập ở trên và người ta sẽ hiểu ngay rằng thật ra, ít người mong nhớ thật lâu những sự kiện cực kỳ đau đớn mà hầu hết người ta muốn quên nhanh đi.
Tuy nhiên, có một số ít người đã nhớ, nhiều đứa trẻ, nhiều hơn là người ta tưởng, đã hồi tưởng các đời sống quá khứ của chúng.Một vài đứa trẻ sinh ra với những dấu vết ở thân thể là kết quả của những hành động trong đời sống quá khứ. Một số ít những người lớn giữ lại những ký ức này rất rõ ràng, nhưng những kí ức ấy thường bị che mờ bởi sự phát triển của những khả năng của tâm thức khi lớn lên. Một số các trường hợp  ký ức như thế đã được sưu tập ở Thái Lan và với nhiều trường hợp ở nhiều nước khác nữa đã được khảo cứu bởi Bác sĩ Ian Stevenson của
trường đại học Y khoa Virginia. Rất nhiều trường hợp trong những trường hợp này có thể kiểm tra những chi tiết đã được hồi tưởng với sự giúp đỡ của người đang sống hay chờ những hồ sơ cũ và với độ chính xác cao là những đặc trưng đáng kể của những hồi tưởng ấy. Sự thôi miên thâm sâu đôi khi sản sinh ra một số chi tiết về một đời sống trước đây mặc dù không phải luôn luôn là một đời sống sau cùng. Sau hết và đáng tin cậy hơn cả, là những ký ức được đánh thức dậy qua một đầu óc trong sáng và thiền định, như chúng ta đã thấy, không phải chỉ một đời sống được nhớ lại, mà vô số kiếp sống trước đây có thể được kinh nghiệm lại một cách đầy đủ chi tiết.
Có thể tóm tắt phần nói về tái sinh này bằng sự so sánh nổi tiếng của Phật giáo của Ngài Nagasena khi Ngài được vua Milinda ( tiếng Hy Lạp là  Menan der), Ngài Nagasena so sánh tái sinh với những biến đổi trong một bình sữa. Thoạt đầu chỉ có sữa, sữa biến thành sữa đông, sữa đông thành bơ, từ bơ thành bơ đặc, từ bơ đặc đến váng bơ, quá trình biến đổi như thế có thể phát triển từ quá trình này qua quá trình khác một cách bất định. Mỗi giai đoạn được ví với một sự sinh ra đời và tất cả thời gian từ giai đoạn sữa đến váng bơ, không có một thực thể nào làm nền tảng mà thực sự không biến đổi - ở đây
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »