nhưng cần hiểu rằng không có gì mà Ngài không thể từ bỏ.
Tặng phẩm Phật pháp là quan trọng nhất, hơn tất cà các tặng phẩm khác. Tại sao? Bởi vị Phật pháp được xây dựng trên căn bản thực tính của thực tại và chỉ cho mọi chúng sanh cách sắp đặt đời sống của họ để thay vì bị làm cong quẹo bởi tư tưởng điên đảo thì họ được an lập trên nền tảng vững chắc của Pháp. Do tu tập Phật pháp, các chúng có thể trở nên hạnh phúc sau khi làm tròn các mục tiêu càng lúc càng cao của mình. Những ai mong tái sinh trong loài người, thì có Con Đường Pháp của con người cho họ; tương tự, có Pháp dành cho những người thích đi về cõi trời hơn: và đối với những người quyết tâm mong mỏi được vào hàng các Bậc Giác Ngộ, cũng có đường sáng tỏ dành riêng cho họ. Nhưng để Bố thí Pháp đưa đến Niết bàn như thế, cần phải là một vị đã dày công học tập, thiện hảo tu hành và nhất là đã đạt được Tuệ Giác Niết bàn cho mình trước đã.
Giới Đức: " Không bao giờ làm một việc ác nào
Giới điều
Giới luật đạo đức của Phật giáo không phải là một cứu cánh trong chính nó, mà được thực hành
cùng với các pháp môn khác nữa của Đạo Phật, như là bước đầu của con đường đạt tới Giác ngộ. Có nhiều loại giới điều cho các Phật tử theo Giáo lý ở nhiều cấp độ khác nhau. Các Giới điều không có nghĩa " mệnh lệnh", vì không có ai đã ra lệnh rằng người ta phài giữ gìn chúng. Đức Phật khuyên vì hạnh phúc của riêng mình và của những ngưới khác mà ta nên thủ trì một số " nguyên tắc tu tập" được gọi là giới điều.
Năm Giới căn bản dành cho các cư sĩ đều được mở đầu bằng sự tuyên bố: " Tôi quyết theo nguyên tắc tu tập là giữ gìn mình không...". Năm hành động phi đạo đức mà một Phật tử tự huấn luyện mình tránh là: Sát sanh (1), Lấy của không cho, Tà dâm,
(1) Ở đây một số người nêu một lập luận "giả sử" xưa cũ"giả sử rằng một thành phố bọn chuột mang bệnh dịch quấy phá, thì có phài giới này có nghĩa là người Phật tử không giết chúng không?" Trước hết một điểm nhỏ cần nêu về những câu hỏi đầu bằng từ " giả sử" vì những câu ấy hoàn toàn là giả thuyết và thường không thích hợp. Tuy nhiên, trong trường hợp này, thái độ cùa người Phật tử về việc giữ giới này cần phải được hiểu rõ ràng. Một đặc trưng mạnh mẽ nhất trong các Giáo lý của Đức Phật là tính uyển chuyển và dĩ nhiên điều này cũng áp dụng cho các Giới điều. Các giáo điều này không nên được tuân thủ một cách cứng nhắc, không suy nghĩ mà phải được thực tiễn hóa để chúng là một căn bản cho những quyết định khôn ngoan. Trong những trường hợp thông thường, cảm thấy xấu hổ và vô khả năng để giết hại là tốt, nhưng khi không chỉ chính mình mà nhiều người khác bị cái chết đe dọa thì người ta phải dùng trí tuệ. Ở đây không có nguyên tắc nào để được theo một cách mù quáng - " rằng anh ấy phải làm đều này, chớ làm điều kia " vì những người Phật tử, sử dụng trí tuệ và từ bi, tự họ sẽ quyết định làm điều gì là tốt nhất.
Vọng ngữ (gồm nói dối, nói lời hung ác, nói lời hai lưỡi, nói lời phù phiếm), Uống các thứ rượu men, rượu nấu gây ra sự bất cẩn. Giới có thể giữ đủ năm giới với nhau, khi một giới bị phá thì cả năm giới đều bị cấu nhiễm; hoặc được giữ từng giới riêng lẻ, khi một giới bị phá không có nghĩa rằng tất cả các giới đều bị xóa bỏ. Trong bất cứ trường hợp nào,hoặc một giới hay năm giới bị phá, các giới phải được thọ lại từ một tu sĩ, thường là Bổn sư của mình.
Có người cho rằng các giới này dễ giữ vì thể thức của chúng quá ngắn gọn. Tuy nhiên, khi chúng được cắt nghĩa rộng hơn, thì ta thấy từ "dễ" không hoàn toàn là từ đúng đối với các giới ấy. Để làm sáng tỏ điều này, ta cẩn triển khai sơ các ý nghĩa của từng giới điều.
1. - " Tôi quyết theo nguyên tắc tu tập là không sát sanh" - đó là giới thứ nhất. Hận thù của một số ít người buông tuồng đến nỗi họ giết người một cách mù quáng: những người như vậy thường bị quản thúc trong các bệnh viện tâm thần. Những người giết thú vật như là những người đồ tể thì tích lũy cho chính họ một tương lai tàn tệ khổ đau, kết quả của những hành động của họ. Người ta không thể giết người hoặc vật một cách cố ý mà không có yếu tố sân (hay một trong các căn bản Bất thiện khác) hoạt động trong tâm. Dĩ nhiên, phần đông
người ta sẽ nói " Nhưng tôi không phài là người điên hay đồ tể", câu nói ấy hàm ý rằng họ giữ giới này trong sạch một cách dễ dàng. Họ phài hỏi thêm rằng cái gì của con ruồi hay con muỗi đã quấy rầy con người đến nỗi một bàn tay nặng nề đã giáng xuống chà nát cuộc đời của nó? Ruồi, muỗi đều có thần kinh hệ, chúng cảm thấy đớn đau, và hơn nữa, chúng muốn sống, không muốn chết. Đối với các loài động vật cũng như thế, chúng bị tàn sát hàng triệu mỗi ngày chỉ để làm thích thú cái lưỡi và cái bụng cùa con người. Rồi còn có sự săn đuổi và hủy diệt từng khối sâu bọ. Con người gọi chúng là "ôn dịch" nhưng chúng cũng sát sống như con người. Cuộc sống đối với con người thì dễ nhận mà không thể cho. Vì người ta không thích mình chết nên kẻ nào dùng hiểu biết của mình để hủy hoại chúng sinh khác thì thật chẳng sáng suốt tí nào.
Năm yếu tố phải hiện diện mới khiến giới này phá vỡ:
a. Đối tượng bị giết là một sinh vật,
b. Người giết biết rằng đó là một sinh vật
c. Cố ý giết,
d. Nỗ lực giết,
e. Sinh vật chết vì nỗ lực ấy.
Khi thiếu một trong năm yếu tố đó thì giới không bị phá vỡ. Điều này áp dụng cho các yếu tố được nêu về giới kia: tất cả các yếu tố đó phải có mặt thì giới mới được gọi là bị phá vỡ.
2. - " Tôi quyết theo nguyên tắc tu tập là giữ mình không lấy của mà người ta không cho mình". Điều này còn nhiều thứ hơn là không trộm cắp. Ví dụ, vay mượn cẩu thả sẽ được kể vào đây khi trong tiềm thức người ta không có ý định trả lui vật mượn. Biển thủ và sự giao dịch doanh thương man trá như sự giả mạo hàng hóa thực phẩm mà một số chủ tiệm và các nhà buôn thực hiện, cũng được kể vào đây. Sự trả lương thấp cho các công nhân là một trường hợp khác mà giới này bị phá vỡ.
Một khi ta mong người những người khác tôn trọng những vật mà ta xem là của riêng mình, thì tốt hơn là ta nên hoàn toàn ngay thẳng đối với những gì của người khác. Giới này bị phá vỡ khi có đủ các yếu tố sau:
a. Vật ấy là của người khác,
b. Biết vật ấy là của người khác,
c. Cố ý đánh cắp
d. Nỗ lực để đánh cắp,
e. Lấy được đồ vật do nỗ lực đánh cắp ấy..
3. - " Tôi quyết theo nguyên tắc tu tập là giữ mình không tà dâm". Giới này thường được cắt nghĩa là giữ không ngoại tình, một nguyên nhân rất mạnh của sầu khổ, không chỉ cho những người làm điều đó mà còn cho cả thành viên trung thành của hôn nhân. Những điều sầu khổ của những người gây ra tội không thể thấy rõ ràng ngay, nhưng những sầu khổ của những người vô tội thì tức thời và khốc liệt. Nhiều nỗi thống khổ, cả đến sự tự vẫn hay mất quân bình tâm lý, sẽ tránh khỏi nếu giới này được giữ một cách nghiêm chỉnh. Cũng có những sầu khổ của trẻ con trong các vụ hôn nhân đỗ vỡ. Sự mất cha hay mẹ thường để lại một vết hằn sâu trong các tâm thức non trẻ và có thể đó là những nguyên nhân gây ra rối loạn trong cuộc sống về sau này của chúng. Rồi có những khó khăn về kinh tế xảy đến khi các cặp vợ chồng đổ vỡ theo cách ấy. Toàn bộ một khối sầu bi được gây nên chỉ vì các ông hay các bà không thể kiểm soát chặt chẽ ham muốn dục lạc của mình và không thỏa mãn với người bạn đời. Đây là hình ảnh rõ ràng của giới này.
Mọi hành vi xấu khác cũng được kể vào đây: những người trẻ chưa thành hôn cần khôn ngoan tự tiết chế những liên hệ bất cứ cái gì có thể ràng buộc họ. Tiết chế là thiện và cần phải tiết chế không phải chỉ hành động bên ngoài mà cả ở lòng ái dục mà trong tu tập Phật giáo được kể là một trong những
yếu tố tâm thức bất thiện. Khi bốn yếu tố sau này có mặt thì biết rằng người ta đã phá vỡ giới này:
a. Điều không nên làm ấy đã xảy đến với ba hạng nữ (những người đã có chồng, những người ở trong sự chăm sóc của cha mẹ hay các nữ tu sĩ và những người độc thân) khác và ba hạng nam (những người đã có vợ, những người được cha me, các vị Tăng, các Sa di chăm sóc và những người sống độc thân khác).
b. Cố ý hành dâm,
c. Nỗ lực hành dâm,
d. Liên hệ qua bộ phận sinh dục ( với các hạng người trên).
4. " Tôi quyết theo nguyên tắc tu tập là giữ mình không nói dối". Giới này là một trong những giới khó giữ nhất đối với mọi người vì nó không chỉ gồm có nói dối mà còn không được nói lời thô ác, không được nói hai lưỡi và không được nói lời phù phiếm. Kiểm soát cái miệng không phải là dễ dàng lắm đâu, nhất là ta đang bị rối loạn thì cái miệng lại càng ít bị kiểm soát và chính ta và những người khác lại càng bị rối loạn. Sự nói dối tự nó có những bóng tối tinh tế không dễ gì nhận rõ nếu ta không chân thành với chúng ta. Lời nói thô ác được thả ra khi giận dữ và ta trách cứ, cằn nhằn hay công khai áp bức người khác mà có thể dùng những nguyền
rủa khó chịu. Người ta thích kể những câu chuyện nhỏ và rất hay ho đề cập tới những lỗi lầm của người khác, ta nói ngọt ngào và người khác thích thú lắng nghe: đấy là nói dèm pha. Sau hết và không phài là quan trọng, khi nhiều người xài phí thì giờ rảnh rỗi vào việc nói xàm láp những chuyện không đâu, bằng những lời nói phù phiếm: con người cần dùng kho ngôn ngữ quý giá và thời gian thấm thoát vào việc hữu ích hơn.
Sự tổn hại đến với người không biết giữ mồm miệng: Những người khác sẽ nghĩ rằng con người ấy là không đáng tin, bạo động, xảo quyệt hay điên rồ, trong khi họ cũng chịu khổ vì vi phạm giới này. Giới này bị phá vỡ khi có ba yếu tố sau:
a. Cố ý nói dối
b. Nỗ lực nói dối,
c. Người khác hiểu được những gì ta đã nói.
5. " Tôi quyết theo nguyên tắc tu tập là giữ mình không uống các thứ rượu men, rượu nấu gây ra sự khinh xuất".(1) Giới này bị phá vỡ khi có cùng một lúc
(1) Điều quan trọng là tất cả các chất tạo ra sự sai lạc về kinh nghiệm của một người bình thường đều nằm trong giới thứ năm. Ở Ấn Độ, cả thời xưa cũng như ngày nay, việc sử dụng các chất ma túy để kích thích các kinh nghiệm " tôn giáo" gồm các ảo giác về mắt và tai đã và đang được biết đến nhiều và thực hiện rộng rãi. Những " thấu thị" mà một số người hiện nay đang dùng chất mescalin, v..v... tuyên bố thì cần
bốn yếu tố:
a. Có rượu,
b. Cố ý uống rượu,
c. Nỗ lực uống rượu,
d. Có động tác uống rượu
Tất cả bốn giới trên về mặt thanh tịnh của chúng tùy thuộc vào sự tỉnh giác liên tục và nếu cái tâm bị rượu chế ngự thì có tổn hại nào mà không xảy ra được?
Một câu chuyện của người Tây Tạng được kể thế này:
Có một người đàn ông ở xứ nọ đã làm cho con quỷ phát giận. Con quỷ dọa nạt ông và nói với ông rằng chỉ để cho ông yên ổn nếu ông bằng lòng phá một trong Năm giới này.
Người đàn ông kia là một cư sĩ Phật tử thuần thành đã giữ giới thanh tịnh rất có hiệu quả. Ông nghĩ: " Ta không thể phá giới thức nhất, vì giết một
phải được kiểm xét về sự khác biệt mà những kinh nghiệm này tạo ra cho các sức mạnh của tham, sân và si trong tâm và trong cách hành xử của họ. Nhất là có ai bảo rằng các chất ma túy này cống hiến cho người ta một loại đường tắt đi đến chứng ngộ, hoặc được gọi là Vipassana hoặc là Satori thì chúng ta phải nhấn mạnh rằng không thể có con đường tắt thực sự nào thuộc loại ấy và có kinh nghiệm kia không thể nào thay thế được sự nỗ lực trải qua bao năm và cả bao kiếp sống nữa.
chúng sinh là một điều kinh khủng nhất. Còn về giới thứ hai, ta chưa từng trộm cắp vật gì, trộm cắp là một tội lớn. Ta luôn luôn trung thành với vợ ta và cùng được hạnh phúc. Như thế làm sao ta có thể phá giới thứ ba được? Còn giới thứ tư, nếu ta phá nó, chắc chắn sẽ làm cho một người nào đó khổ sở và mình mang tiếng xấu. Giới thứ năm thì thế nào, hừm...?" và người ấy cho rằng một ngụm rượu nhỏ sẽ không gây hại gì và đồng thời thỏa mãn yêu cầu của con quỷ đó.
Người ấy trước đó chưa từng nếm rượu và ngụm rượu nhỏ mà ông nhấm đã kích thích ông bằng mùi vị của nó, ông nghĩ : " Thứ này ngon, uống thêm một chút nữa cũng chẳng hại gì cho ta". Và vì thế, ông uống thêm một ít, thêm nữa... cho đến khi ông say mèm.
Trên đường về nhà, khi đi ngang qua một người thợ kim hoàn, ông ấy chụp lẹ một vài món nữ trang. Sau cùng về đến nhà, thấy vợ vắng nhà và lần đầu để ý thấy vợ của người láng giềng đẹp làm sao. Đi đến bà ấy, ông ta cho bà nữ trang và cả hai bước vào nhà bà ấy. Sau một lúc bà ta đề nghị kiếm vài thức ăn, cho nên ông ta lấy rìu chặt đầu một con dê. Sau cùng người thợ kim hoàn đến với các viên chức kết tội ôn ta ăn trộm, ông ta thẳng thắn chối cãi, lớn giọng la lên rằng ông ta vô tội. Và thế là trọn Năm giới đều bị phá.
Giữ cho năm giới này thanh tịnh là dấu hiệu của một con người thực sự và của một kẻ nếu chưa làm được việc gì lớn hơn, chắc chắn sẽ được tái sinh làm người, được hưởng hạnh phúc và giàu có. Những người mà tiêu chuẩn đức hạnh không đạt đến cấp độ Năm giới thì tự mình không đủ phẩm chất để tái sinh làm người, vì tâm thức họ thấp kém hơn con người. Hiệu quả của việc giữ Năm giới này là loại trừ được những căn thẳng và mâu thuẫn rất thường có giữa cái " những gì tôi phải làm" ( để giữ đức hạnh mình như một con người) và " những gì tôi thực sự làm" ( hạ thấp xuống thú tánh...). Nghiêm túc cố gắng giữ hoàn bị các điều Giới ấy thì loại trừ được cái hố ngăn cách giữa hai điều đó, và kết quả là thay vì tiêu phí nhiều năng lực trong việc ổn định các mâu thuẫn tâm lý, người ta cảm thọ được cảm giác thanh tịnh, hạnh phúc lớn hơn.
Sau khi quy y Tam bảo (Tam quy), một lể thọ giới (Năm giới trên) đơn giản được thực hiện, trong đó một người tự tuyên bố rằng mình là người theo Phật pháp. Với Tam quy ( ba nơi Nương tựa), người ây an lập niềm tin của mình vào Bậc Đạo sư, vào Giáo lý và vào những vị được Bậc Đạo Sư giảng day, thế là nhận giữ Năm giới, người ấy đã thực hiện bước đầu tiên về sự an lập Tam quy của niềm tin thành Tam bảo của sự hiểu biết hướng nội. Năm