Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 21: Các công đức và các hạnh Ba La Mật (Trang 127 - 130)

Các công đức và các hạnh Ba La Mật
 Trước khi bàn về việc tu tập của Phật giáo, khởi đầu là con đường " xuống tới đất" mà không phải là con đường " lên đến trời", chúng ta phải chuyển từ cao điểm của lý thuyết xuống khảo sát căn  gốc của lý thuyết.
Những căn gốc này nằm chen trong cái gọi là " tạo công đức" ( từ dịch hơi nghèo nàn của từ Punna) nên ý niệm về công đức cần được xét qua ở đây. Công đức phát sinh từ sự thực hiện các hành động thiện hoặc bằng ý, lời, hoặc bằng thân. Công đức (Punna) được định nghĩa là cái gì gột rửa cái tâm và làm thanh tịnh cái tâm. Tức là, việc làm các điều thiện làm tăng trưởng sức mạnh của các Thiện Căn và làm giảm bớt sự bám kết của các Bất thiện Căn. Do sự gia tăng các điều thiện và làm yếu đi các điều bất thiện ấy, người ta bảo rằng công đức mở cửa và tạo điều kiện tốt. Chẳng hạn như nó gia tăng cơ hội có được một hoàn cảnh giáo dục tốt, được có của cải, tiện nghi, được nghe Pháp, thích Pháp và tu tập theo Pháp. Cần ghi nhớ rằng công đức mở ra nhiều cánh cửa. Do đó mà chúng ta mới nói đến chuyện các kho công đức hay những căn bản công đức mà một người đã đạt được.
Làm thế nào mà người ấy có căn bản của công đức ấy? Bằng các việc làm như được ghi ở Mười
Cách tạo Công đức: Thí, Giới, Định ( hay Thiền Định), Tôn Kính (lễ kính), Giúp đỡ, Hồi hướng Công đức, Tùy hỷ Công đức, nghe Pháp thuyết Pháp, ( và như là kết quả) Chánh kiến. Ở đây không có chỗ để bàn rộng về mười khía cạnh này của việc tạo công đức dù rằng nhiều khía cạnh được giải thích rải rác trong cuốn sách này, nhưng cần biết rằng chúng rất quan trọng đối với các Phật tử. Trong khi các công hạnh rất dễ được chấp nhận ở phương Đông, nơi mà chúng thường được thực hành, thì chúng trở nên quan trọng hơn đối với một Phật tử ở phương Tây. Người ta có thể tìm thấy ở đấy nhiều Phật tử nhờ đọc sách và nghe giảng mà có đủ kiến thức để giải thích các ý nghĩa của những khúc mắc như Niết bàn hay Vô ngã, nhưng trong khi họ có thể giải thích những gì cao siêu của đạo Phật ở mặt lý thuyết thì đời sống của họ lại có thể đầy dẫy mâu thuẫn cả trong lẫn ngoài. Cái hố phân cách giữa tri thức và thực hành trở nên rõ ràng một cách đau đớn nếu không phải đối với người ấy, thì chắc chắn sẽ như thế đối với những người khác. Mười cách tạo công đức ấy giúp họ biết làm thế nào để có được một đời sống hàng ngày rất mực hữu ích, vì lẽ các hành động công đức giúp họ hàng gắn được sự rạn nứt giữa tri thức và các tình cảm của họ.
Động cơ thúc đẩy một người làm công đức lả hạnh phúc của chính họ ở đây và bây giờ và là hạnh
phúc tương lai của thế giới kia. Trong khi người ấy nghĩ đến an lạc của mình, hành vi người ấy không hoàn toàn quỵ ngã vì người ấy được khuyến khích " hồi hướng" công đức nhằm lợi lạc cho những người khác cũng như hoan hỉ về công đức của người khác. Chẳng hạn như ở Thái, công hạnh thường có tính chất quần chúng thường là hoạt động cộng đồng thường cả làng hay một nhóm bạn bè, v.v. và dù những người khác không có gì để bố thí cũng được đón mời gia nhập. Chuông trống và tiếng reo vui trong đám diễn hành báo tin cho những người hành thiện hạnh khác để cho họ có thể gia nhập vào hoặc để họ sung sướng vì biết rằng kẻ khác được sung sướng. Việc làm này tự nó là một công đức. Chúng ta cần nhớ rằng các hình thức công hạnh khác như giữ giới, hành thiền hay chánh kiến không phải là cộng đồng.
Trong khi công đức là kết quả thực tiễn của việc làm tăng trưởng sức mạnh của Thiện Căn, tự nó sẽ không đoạn trừ các lậu hoặc các tâm thức hay các Căn bản Bất thiện, trí tuệ mới cần thiết cho việc đoạn trừ các thứ ấy và ở cấp độ cao hơn của việc tu tập của Phật giáo, chúng ta không nói đến công đức mà nói đến những Đức tính Hoàn thiện hay các Ba la mật. Công đức trở thành một Ba la mật, khi nó được thực hành một cách hoàn toàn không có liên hệ đến ý niệm về ngã. Khi người ta
đang bố thí thì không phải là "tôi đang bố thí" mà chỉ " có sự bố thí", vì chỉ có sự vô niệm mới làm biểu hiện quá trình làm rỗng không cái ngã. Tương tự, không có sự việc "người ấy đang nhận" mà chỉ có sự  việc "có sự nhận", trong khi hành động tự nó không có bản chất nào cả. Nhận thức về cái không xảy ra đồng thời ở ba lĩnh vực. Việc thấy sự-vật-đúng-như-chúng này thì vượt ra ngoài công đức bởi vì nó vượt ra ngoài bất cứ một ý niệm nào về một cái ngã có thể sở hữu công đức ấy. Các công đức đưa người ta thác sinh thành người hay thác sinh ở cõi trời nhưng các hạnh Ba la mật thì đưa người vượt khỏi sự thác sinh, đến Bờ Bên kia của Niết bàn.
Mười hạnh Ba la mật liệt kê dưới đây tuyển chọn từ các bảng liệt kê Pali và Sanskrit, dù có nhiều hạnh Ba la mật sẽ được bàn đến trong các phần nói về tu tập mà chúng liên hệ. Dĩ nhiên, mười Ba la mật này có thể được tu tập bởi những ai mong cầu chứng ngộ mà chưa đi vào con đường Tuệ giác. Trong trường hợp ấy, các Ba la mật sẽ chỉ là Ba la mật của Phàm nhân hay chỉ là sự tu tập các thiện hạnh.

 
             Ba la mật về:
Phàm tuệ Xã Nguyện Thí (sơ cấp
Giới Trì Giới ( căn bản)
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »