Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 9: Đời sống của Đức Gotama (Trang 19 - 35)

triển khai tuệ giác giải thoát qua nhiều đời sống (xem (1) phần Tái sanh), thật sự cần phải có thời gian dài. Những phẩm chất cần thiết cho sự chứng đắc rốt ráo về Phật quả là các hạnh Ba-la-mật, trong khi ấy, sự từ bỏ là hoàn toàn là điều cần thiết nền tảng có thể rút ngắn thời gian thực hành chỉ còn trong đời sống này thôi. Đại Thanh Tịnh, Trí Tuệ và Từ Bi vốn là đặc trưng của Phật tính được xây dựng trên cơ sở ấy, Trong phần trình bày của chúng tôi, cần phải đề cập đến những tiên thân ( xem một vài tiền thân của Đức Phật ở phần nói về các Bà-La-Mật) rồi đưa một tóm tắt về mẩu chuyện nổi tiếng nhất được nhiều lần kể đến với nhiều chi tiết về đời sống trong đó Đức Phật gần chúng ta nhất, Đức Gotama xuất hiện ở trần gian.

Đời sống của Đức Gotama
Đức phật thuở bé sinh ở dòng họ Sakyas, một vương quốc nhỏ hay một vùng được cai trị bởi thiểu số, hay gọi là Nepal Terai. Thân phụ là vua Tịnh Phạn được bầu lảm người cai quản dòng họ Sakyas. Thân mẫu là hoàng hậu Mahāmaya. Người ta kể rằng vào lúc Đản sinh tại khu rừng Lumbini, có nhiều hiện tượng khác thường báo trước rằng cậu trẻ mới sinh ra quả thật là một bậc phi phàm. Tất cả những nhà tiên tri được vua cho gọi đến, trừ một vị, để đoán trước rằng Hoàng tử Siddahatta có thể có hai
sự nghiệp: hoặc là sẽ trở nên một vị Hoàng đế toàn cầu thống trị những lãnh thổ rộng lớn bằng sự công chính kiên định, hoặc thoát ly gia đình và một mình thiền định, đạt được Giác ngộ tối thượng rồi chỉ con đường cho vô số chúng sanh, nhằm cho sự an lạc và hạnh phúc của họ; đây là lời tiên đoán của vị tiên tri độc nhất ngoài số đông đã nói trên. Vua cha ( thuộc đẳng cấp chiến sĩ) muốn ngài làm Hoàng đế chứ không chịu để Ngài xuất gia và bằng mọi nổ lực làm cho vị Thái tử trẻ tuổi quên lãng các ý định thoát ly. Lớn lên Ngài được giáo dục thật tuyệt vời và tỏ ra là một học trò thông minh sáng chói. Ngoài những môn học lý thuyết, Ngài được huấn luyện đầy đủ những môn võ nghệ thích hợp với một vị Đại đế. Trong thời gian ấy, người ta ghi nhận Ngài rất ít vui thích trong những gì mà cuộc đời đánh giá cao và Ngài thường ngồi một mình trầm tư đến các việc đời. Các vị cố vấn của nhà Vua đã nhanh chóng lưu ý đến điều đó và tâu lên nhà Vua về những cung cách trầm tư của Thái tử. Do đó nhà Vua quyết định giữ Thái tử vui thích trong ba cung điện dựng lên ở ba khu, một dành cho mùa nóng, một cho mùa mưa và một cho mùa lạnh. Đặc biệt không bao giờ để cho Ngài thấy được người bệnh, người già, xác chết hay du sĩ, vì người ta đã tiên đoán nếu Ngài thấy các hiện tượng ấy thì đấy sẽ là nguyên nhân Ngài từ bỏ đời sống gia đình. Lúc Thái tử thành niên, Vua cha cưới Yasodhara, một cô gái đẹp thuộc quý tộc
Sakyas cho Ngài. Sau đó theo lệnh của Vua, Thái tử Siddhatta sống trong xa hoa lộng lẫy. Cung điện của Ngài rộn lên những tiếng hát hay, do những ca sĩ đẹp như những tiếng hát ấy.
Tiếng nhạc ngọt ngào vang lên trong phòng Ngài và đi theo Ngài đến các khu đất của Ngài. Nhà ở được xây cất tinh tế bằng những vật liệu đắt giá và chỉ những người trẻ đẹp mới được đến đó. Ngài dùng những thức ăn mỹ vị nhất, sống cạnh người vợ đẹp và bất cứ điều gì Ngài muốn đều được làm ngay, làm như thế để Ngài có thể bằng lòng với những thú vui của cuộc đời.
Nhưng nhà Vua đã để ngoài sự tính toán của một mình sự kiện mà nhà Vua không thể làm gì được: Thái tử thật sự là một vị Bồ-tát, vị mà nhiều đời trước đã hiến mình, đã hướng suy tư mình về một mục đích độc nhất, sự Giác ngộ tối thượng. Một người như vậy không thể bị cám dỗ mà chấp nhận những thú vui thấp kém có sự dự phần của nhục dục. Rồi một ngày nọ ( khi Thái tử gần 30 tuổi) Thái tử Siddhatta xin vua cha cho phép đi thăm vương quốc tương lai của mình, mà trước đó Ngài chưa từng thấy ở bên ngoài những khu đất riêng. Vua cha đắn đo rồi ra lệnh cấp tốc tang hoàng và làm sạch thành phố. Các triều thần nhận được chỉ thị không thể cho Thái tử thấy những người già, bệnh, những xác chết hay những nhà tù. Tuy nhiên, các cảnh ghê sợ ấy lần

 
lượt xuất hiện trước mắt Thái tử, và Ngài hiểu rằng: " Dù bây giờ ta khỏe, cơ thể này rồi cũng bị ốm đau, dù bây giờ ta trẻ trung mạnh mẽ, cơ thể này rồi sẽ yếu vì tuổi già, dù bây giờ ta sống, rồi cơ thể chắc chắn sẽ đi đến cái chết." Khi nhìn thấy các vị du sĩ khổ hạnh, Thái tử suy nghĩ: " Có lẽ lối sống đó quả thật làm ta hiểu được những vấn đề  đang trĩu nặng này." Thái tử bị dao động sâu xa bởi những cảnh tượng ấy khơi dậy trong tâm Ngài. Thái tử tức khắc ra lệnh rời bỏ cuộc ngoạn lãm ấy và quay trở về cung điện của Ngài. Những vũ nữ, những ca nhi, những vẻ đẹp của cung điện đều chẳng chút gì phá vỡ được những suy nghĩ nhiệt tình của Thái tử.
Sau đó không lâu công chúa Yasodhara sinh một Hoàng nam, được tin này Thái tử than: " Một sự trói buộc đã đến với ta." Do đó Hoàng nam được đặt tên là Rahula ( trói buộc). Tại sao Thái tử lại than như thế? Thái tử trót đã bị trói buộc bởi nghi thức tế lễ, những xa hoa vây bọc, vợ Ngài yêu Ngài và kẻ hầu hạ tùy thuộc vảo Thái tử, một đứa con sẽ là một sợi dây khác buộc trói Thái tử vào đời sống mà Thái tử đã nhận thấy là giả dối và làm sai lạc sự thật. Ngay hôm ấy, Ngài quyết định rằng khi đêm đã xuống, Ngài sẽ trốn khỏi mọi trói buộc ấy, để rồi trong tự do, nỗ lực tinh cần tìm kiếm nguyên do của sinh, bệnh, lão, tử mà Ngài thấy rõ rằng đó là số phận của mọi chúng sinh.
Đêm ấy sau khi thoát nhìn từ biệt vợ con đang ngủ, Thái tử lên ngựa ra đi, con ngựa Kanthaka cùng với Channa, người đánh xe của Thái tử, vào những khu rừng hoang vu trải khắp đồng bằng sông Hằng. Đây là lần đi ngựa sau cùng của Ngài với tư cách một Thái tử. Đến nơi tịch mịch của khu rừng xa vương quốc của dòng họ Thích, Thái tử xuống ngựa cắt những bím tóc dài và trao Hoàng bào sang quý của Ngài cho Channa ( Xa Nặc), Thái tử mặc chiếc áo vảng bách nạp mà ở Phương Đông là biểu hiện của người tu hành khuất sĩ vô gia đình. Cầm một bình bát để khuất thực, Ngài bảo Channa trở về với Vua cha Suddhodana vả tâu với người những gì đã xảy ra. Thái tử được mọi người yêu bởi tính hiền hậu và lưu tâm đến kẻ khác của Ngài, đến nỗi rất nhiều người phải sầu khóc trước sự ra đi của Ngài, giữa lúc ấy con ngựa Kanthaka ( Kiền trắc) của Thái tử đã nhanh chóng chết đi vì đau đớn phải cách xa chủ.
Sa môn Gotama, bây giờ phải gọi như thế, đi trên con đường đơn độc của mình, tìm kiếm thầy chỉ cho Con Đường Giải Thoát. Mặc dù Ngài đã học đạo với hai vị thầy và đã thực hành đạt đến mức Thiền định cao mà hai vị thầy đó đã đạt được, Ngài không thõa mãn, vì Ngài nhận thấy những câu trả lời Ngài tìm thấy cho những câu hỏi về thế giới, về sinh tử không được sáng sủa. Hình như bên cạnh thiền
định xuất thần còn có một cái gì đó là cần thiết, vì thế đức Gotama đã áp dụng một phương thức đang còn phổ biến như là một kỷ luật tôn giáo ở Ấn Độ, đó là việc tu khổ hạnh cực đoan. Trong nỗ lực lớn lao để đạt đến Giác Ngộ, Ngài được năm nhà tu khổ hạnh đi theo Ngài, xem Ngài như là Guru ( Đạo sư) của họ và hy vọng rằng khi Ngài chứng được chân lý bằng cách hành xác, Ngài sẽ truyền chân lý của Ngài cho họ. Các bức tranh của chùa Thái Lan thường phản ánh thái độ tiêu biểu của Ấn Độ về " tin vào bậc Guru" bằng cách diễn tả năm nhà tu khổ hạnh đang nói chuyện với nhau, trong khi Gotama giống như một bộ xương, đang ngồi trầm mặc tìm đạo.
Ngài tu tập khổ hạnh như thế trong sáu năm. Ngài đã sống trong những chổ hoang dã, ghê sợ, trong những bãi tha ma hay những nơi dơ bẩn; Ngài từ chối tắm giặt và không mặc quần áo; Ngài sống nướng mình trong nắng hạ ban ngày, và chịu cóng lạnh trong những bụi cây suốt những đêm đông. Ngài sống rất ít thực phẩm, nhĩn đói tăng dần cho đến khi cái thân đẹp đẽ, vốn từng là thân đế vương của Ngài teo rút lại chỉ còn da với xương. Bắng cách ấy, Ngài đã dạy ta rằng những ai muốn chứng đạt giác ngộ thì phải sẵn sàng huy sinh tất cả, để chứng đắc quả vị cao nhất là Phật quả. Để đạt sự thành tựu lớn nhất - sự Giác ngộ Tối thượng, người ta phải
thực hiện sự từ bỏ lớn lao nhất. Tuy nhiên Ngài nhận thấy rằng đây chỉ là sự từ bỏ bên ngoài, chỉ là sự từ bỏ tiện nghi thuộc thân thể, và rằng gây đau đớn thể xác thì tâm trí không được an tĩnh. Nghĩ rằng những căn nguyên, những rối rắm của Ngài chính là do thiếu sự từ bỏ dục vọng từ trong tâm, Ngài trực nhận ra rằng sức mạnh của cơ thể là cần thiết để Thiền định có hiệu quả và như vậy mới đương đầu với những thực hiện này. Khi Ngài quyết định như thế, năm nhà khổ hạnh trước đây theo Ngài trong  việc tu khổ hạnh đã từ bỏ Ngài và gọi Ngài là Người thối thất bởi vì không tiếp tục tu hành theo như trước. Ngài dùng cơm, sữa và phục hồi được sức khỏe rồi đi đến cội Bồ Đề nổi tiếng, ngày nay gọi là Bồ Đề đạo tràng ( Boddhi Gaya). Bấy giờ, vào một đêm trăng tròn tháng Visakha ( thường vào khoảng cuối tháng 4 hay trong tháng 5 dương lịch), Đức Gotama, Bậc trí tuệ, sắp đạt đến một khám phá vĩ đại nhất. Ngồi trên cỏ dưới cội cây ấy, Ngài ngồi trong tư thế mà vô số Thánh giả Ấn Độ đã ngồi Thiền định, lưng thẳng đứng, chân xếp chéo và tay đặt nằm trên nhau trong lòng vế bụng.
Thời điểm  đã đến cho sự nổ lực tâm thức cao nhất. Trước hết, lắng tỉnh tâm thức bằng cách đi vào các mức độ tập trung tư tưởng ( Jhāna) với tâm trí linh mẫn, Ngài nỗ lực để đâm thủng tăm tối của vô minh và hiểu được những bí mật của hiện hữu.
Trước khi biến cố lớn lao nhất này xảy ra, vị Bồ-tát phải chống đỡ lại cuộc tấn công của Ác ma, kẻ đã được báo động rằng đức Gotama có thể thoát ly khỏi thế giới sinh tử luân hồi của nó, quyết định tìm đủ mọi cách, trong quyền năng của nó để ngăn chặn Ngài. Cảnh tượng này thường được miêu tả trên những bức tường chùa Thái, phô bày những ma quỷ, thú vật và những quái vật với những toán quân hậu thuẫn tấn công gương mặt thản nhiên của đức Gotama đang ngồi trên một bệ cao vượt hẳn chúng. Trước mắt Ngài, các ma quỉ nhảy múa, cố cám dỗ Ngài bằng những nét kiều diễm của chúng. Cao hơn tất cả là tàng cây Trí Tuệ to lớn tỏa rộng, thản nhiên, đây là một hình ảnh biểu tượng, mặc dù quần chúng vẫn tưởng tượng xem như những hiện tướng ấy xảy ra đúng thật như thế. Ác ma và các lực lượng của nó chỉ là tất cả những thói quen, những xu hướng, những kết quả của những hành động từ vô số kiếp sống quá khứ trói buộc chúng ta vào một số quan điểm nhận thức nào đó, một số cách thức hành động nào đó. Đức Gotama đã sống qua nhiều đời làm tăng trưởng các hạnh Ba La Mật, giờ đây Ngài thấy không phải chỉ trừ bỏ và nhỏ tận gốc rễ các xu hướng vi tế dẫn đến những kiến giải sai lầm và phẩm hạnh xấu xa mà còn phải thoát khỏi mọi trói buộc của cái thiện quy ước ( sau khi làm cho điều thiện tăng trưởng trong tính hạnh mình và làm cho
điều ác suy yếu đi. Sau cùng người ta còn phải buông xả ngay sự chấp trước điều thiện, bởi vỉ sự giác ngộ rốt ráo vượt ra ngoài mọi chấp trước). Không còn ngạc nhiên gì nữa, Ngài đã đối mặt với sự động loạn lúc ấy, nỗ lực như Ngài đã nổ lực vượt ra ngoài những trói buộc của nhân giới, đi vào Siêu giới vô biên.
Việc quy tụ của tất cả những mãnh lực vốn do từ quá khứ ấy đã không làm Ngài nản lòng. Bằng sức mạnh vẫn nguyên vẹn Ngài đã từ khước những cám dỗ của dục lạc, Ngài quyết định không để cho những chấn thương cũ đưa Ngài đến sợ hãi, không sân hận, ghét bỏ nào có thể sinh khởi trong tâm Ngài. Thế rồi, với tâm vắng lặng, ổn định và trong sáng như pha lê, Ngài lần lượt chứng được Tam minh (ba sự hiểu biết).
Minh thứ nhất là túc mệnh minh. Rất rõ ràng. Ngài biết được Ngài từng là người nào trước đây, tên gì, sống ở đâu. Từ đời sống hiện tại nầy, ký ức Ngài không còn bị hạn chế bởi những chấn thương của sinh và tử, trở lùi lại đời sống sau cùng (khi Ngài là một Thiên nhân, tên là Setaketu) đến đời sống trên trái đất này, trước đời sống ấy khi Ngài là Thái tử Vesantara ( Tu Đại Noa). Trở lui ba đời, bốn, mười, hai mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn đời, qua nhiều kiếp sống cho đến lúc Ngài nhớ
rõ rằng có một biến cố thật xa xưa, khi Ngài là một tu khổ hạnh trẻ tuổi Sumedha ( Thiện Tuệ), Ngài khiêm tốn trước đức Phật Dipankara ( Nhiên Đăng) và phát nguyện như sau: " Ôi, mong sao một ngày kia con trở nên một Bậc Toàn Giác có đủ mọi năng lực như Ngài". Cứ tiếp như thế, trở lui và lui nữa, nhiều kiếp thành và hoại đã qua, vô số kiếp sống mở ra trước sự quán xét của Ngài.
Đêm ấy vào khuya hơn, Ngài đắc được minh thứ hai, là cái biết về sinh và tử của các loài hữu tình tùy theo hành động có tác ý của họ ( Kamma, nghiệp). Dù đức Gotama chưa là một vị Phật, Ngài cũng nhận ra rằng tùy thuộc vào các hành động thiện hay bất thiện của một chúng sinh như thế nào mà chúng sinh ấy sinh vào đời sau như thế ấy.
Ngài thấy rõ những hành động quá khứ của một chúng sinh ảnh hưởng đến tâm hiện tại và những suy nghĩ mà chúng sinh ấy chọn lựa hiện tại gây kết quả trong tương lai như thế nào. Cái màng nhện rối rắm của những tương quan giữa quá khứ, hiện tại và tương lai đã trở nên quá rõ ràng và Ngài đã thấy các chúng sinh đi lên tùy theo những hành động của họ, hay thác sinh vào những cảnh giới thấp kém nếu họ làm ác hạnh. Đây là một trí tuệ đi sâu vào mạng lưới rắc rối của những tương quan để thấy được kết quả của những hành động của chính các chúng sinh đã đặt họ vào sự trói buộc như thế nào.
Đêm tiếp tục qua... Tất cả đều im lặng, dường như mọi sinh vật, dù là sinh vật bé bỏng, hèn mọn, đều biết cái chiến thắng vô minh sắp đạt được bởi một người mà tiếng tăm sẽ vang dậy qua nhiều thời đại, là đức Gotama đấng Toàn giác, Thánh giả dòng họ Sakyas. Trước khi sự giác ngộ kỳ diệu, siêu việt được xác chứng, ngục thấp của vô minh phải bị phá đổ. Rồi mới tuệ giác siêu việt vô biên, mọi vấn đề mà tâm hướng đến đều được hiểu rõ, hẳn không còn gì tối tăm, không có gì giới hạn được các năng lực hiểu biết. Tuệ giác ấy được gọi là sự đoạn tận các lậu hoặc vì các " lậu hoặc" này đã bành trướng, tích nhiễm, chảy sâu vào tư tưởng và làm cho nhận thức sai lạc. Lậu hoặc thức nhất là Dục lậu: luôn luôn muốn một điều và chối bỏ điều ngược lại. Điều này tóm tắt quá trình thông thường của đời sống con người, và lối sống như vậy thật là cấu ếu. Lậu hoặc thứ hai là Hữu lậu: bao giờ cũng khát khao đời sống này qua đời sống khác, muốn tiếp tục nữa và dĩ nhiên không muốn nếm khổ đau của sinh, tử, bệnh , lão kèm theo đấy hay bản chất khổ đau của các dục lạc. Lậu hoặc thứ ba thực sự là lậu hoặc căn bản là vô minh ( vô minh lậu) hay rõ hơn, về sự hiểu biết sai lầm hay sự diễn dịch hiện hữu một cách phiến diện, lộn xộn. Rõ ràng là do, bởi sự có mặt của màn vô hình ở trong tâm thức.
Thế rồi, vào một buổi sáng, lúc bình minh vừa
ló dạng, đẹp trời, trong sáng, và bất cứ một buổi bình minh mùa hạ nào khác cũng không có, người ta đã thấy một sự khởi đầu của kỷ nguyên mới: Một dấng Giác ngộ được Thức tỉnh và Chiếu rạng về tâm linh bởi một sự xác chứng tự nội cái kinh nghiệm riêng của Ngài về Chân lý đã xuất hiện ở đời. Với tuệ nhãn thẩm xác thế giới, Ngài thấy rằng Ngài thật sự là người cao nhất, không có Bậc thầy nào để người kính trọng như một Bậc trưởng thượng. Ngài quyết định sống " lấy chánh pháp làm thầy của mình". Bồ-tát Gotama, đối với đời là một nhà tu khổ hạnh và trước đây là một Thái tử, ngồi dưới cội Bồ đề, nay đã là Đức Phật Gotama, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, tâm trí giải thoát mọi trở ngại và mọi giới hạn. Truyền thuyết cho rằng, sáng hôm đó hết thảy chúng sanh đều sống trong hòa bình và hòa hợp, rằng hạnh phúc có mặt khắp vũ trụ.
Bấy giờ tuệ giác siêu việt đã được khai triển đến hoàn toàn, nhưng Ngài có chiều hướng không tin rằng mọi người có thể thâm nhập được các Chân lý của Ngài đã phát hiện. Ngài rời khỏi chiều hướng này khi Ngài dùng linh nhãn để quan sát thế giới, nhìn chúng sanh nổi chìm trong những làng sóng dục vọng, trong cơn bão tố của sinh tồn. Chứng kiến cảnh thương tâm đó, Đại Từ Bi đã mở rộng trong lòng Ngài như một đóa sen nở rộ, tuy Ngài nhận thấy quả thực chỉ có một số ít người " ít có bụi bặm
trong đôi mắt" có thể hiểu được. Do đó Ngài quyết định truyền đạo cho các vị thầy dạy Thiền định ngày xưa của Ngài, nhưng họ vừa mới mạng chung; rồi Ngài nghĩ đến năm người bạn đồng hành trước đây cảu Ngài, biết rằng họ đang ở Lộc Uyển, ngoài thành Benares, Ngài đi đến nơi ấy.
Trên đường đi Ngài gặp một người lõa thể du sĩ tu khổ hạnh, Upaka, người này rung động bởi hình dung đẹp đẽ và phong cách thanh thoát của Ngài, đã hỏi Ngài đạo sư của Ngài là ai và giáo lý của Ngài đã theo là giáo lý của ai. Đấng giác ngộ đã trả lời bằng một câu kệ sau đây, những lời nói đầu tiên của vị Phật (theo như một sự trần thuật) tuyên bố rất mạnh về Tuệ giác và vô úy như là tiếng rống của con sư tử:
Ta là người Chiến thắng tất cả,
                          người Hiểu biết tất cả,
Ta vô nhiễm trong tất cả các pháp .
Từ bỏ tất cả, ta đã giải thoát bởi
                          diệt tận khát ai.
Tự mình biết rằng không tìm đâu ra
                          ai là bậc thầy của mình.
Trong thế giới Chư thiên,
Không có ai ngang bằng Ta.

Quả thật Ta có giá trị trong cuộc đời này,
Ta là một vị Phật hoàn hảo, vị duy nhất,
Một bậc Đạo sư thực sự vô tỉ.
Ta đã được trở nên mát lạnh, đã được
dập tắt.
Để chuyển Pháp luân,
Ta đến thành phố Kasi, tại đấy
Gióng lên tiếng trống Bất tử
Giữa cuộc đời đang mù quáng.
Những kẻ chiến thắng thật sự giống Ta,
 Ta đã đạt được sự tận diệt các lậu hoặc,
Ta đã đánh bại các Ác Pháp,
Và như vậy, này Upaka, Ta là kẻ chiến thắng.
( xem Trung bộ kinh, I, 171)
Tuy nhiên, dầu Upaka đã được đức Phật dạy như vậy, vẫn không sẵn sàng đón nhận Giáo pháp của Đức Phật, đã từ giã Ngài giữa lúc Ngài đi từng chặng đường ngắn đến thành phố Kasi, Banares. Ở đó Ngài đã dạy bài pháp đầu tiên, lần Chuyển Pháp Luân nổi tiếng. Năm nhà tu khổ hạnh trở thành năm vị tu sĩ Phát giáo đầu tiên, và cả năm đều chứng quả Dự Lưu khi nghe Ngài dạy và sau đó trở thành bậc A La Hán. Thế rồi bắt đầu cuộc sống dài giảng dạy và tổ chức ở thung lũng sông Hằng. Đức Gotama Giác ngọ lúc 35 tuổi và suốt 45 năm sau đó giảng pháp cho những ai muốn nghe
Ngài truyền dạy những đệ tử đã Giác ngộ của Ngài đi truyền pháp " vì sự an lạc cho đời, vì hạnh phúc của trời và người". Ngài và chư đệ tử điều bố thí Pháp cho các vị vua, và cho những cô gái giang hồ, cho những người Bà La Môn và cho những người ăn xin, cho những người cao quý cũng như thấp hèn tùy theo khả năng hiểu biết của họ. Giáo hội Tăng già được thiết lập và các giới luật dần dần thành hình để quản lý nội bộ Giáo hội. Tương tự như thế, Giáo hội Ni được thành lập của sự thẩn cầu của bà Mahāpajāpati, di mẫu của đức Gotama, người đã mong cầu xuất gia sống đời sống không gia đình cùng với nhiều nữ nhân khác của đẳng cấp Sakyas. Cả hai Giáo hội Tăng, Ni đã và đang mở rộng cho những ai muốn cống hiến hết năng lực của họ cho việc học và hành Phật pháp. Không có sự ngăn cách nào về giai cấp, chủng tộc hay màu da, trong quá khứ và trong hiện tại, đối với việc thu nhận vào Giáo hội hay đối với việc gia nhập và phát triển trong các Giáo hội này.
Năm 80 tuổi, đức Gotama cảm thấy cơ thể suy yếu và không bao lâu nữa sẽ ngưng hoạt động. Cho nhóm các đệ tử lại, Ngài báo tin cho có các đệ tử biết rằng trong vòng ba tháng nữa sẽ ngưng hoạt động . Cho nhóm các để tử lại, Ngài báo tin cho các đệ tử biết rằng trong vòng ba tháng nữa là đến lúc Ngài  nhập cứu cách Niết bàn. (1) Sau đó, Ngài cùng với một đoàn




(1) Nói về " cái chết" của Đức Phật là không đúng, vì Phật tính không
đông đúc các Tỳ kheo đến Kusinara và chuẩn bị tại đó việc nhập cứu cánh Niết Bàn của Ngài, giữa các đệ tử gồm cả tu sĩ và cư sĩ. Trong số những vị này, ai là A La Hán đã Giác chứng thì không khóc lóc vì các vị đã hiểu  rõ rằng tất cả các Pháp hữu vi, ngay cả thân vật lý của Như Lai đều vô thường và phải hoại diệt. Nhưng những tu sĩ và cư sĩ đang còn là phàm nhân thì khóc lóc đau đớn vì Bậc Đạo Sư được họ yêu nhất, quý giá nhất, từ bi và trí tuệ nhất của họ không bao lâu nữa sẽ xa họ, họ sẽ không còn có thể thấy Ngài nữa. Tuy nhiên, trước lúc nhập Niết Bàn, Đức Phật còn khuyên họ về hai vấn đề: " Khi ta mệnh chung, đừng có nghĩ rằng, " Chúng ta không còn Bậc Đạo Sư nữa" vì các người phải lấy Chánh pháp làm Đạo Sư của mình." Và chính lời dạy cuối cùng của Như Lai trong khi Ngài nằm thanh thoát giữa hai cây Sala đầy hoa thơm, là những lời dạy quý giá nhất đối với những đệ tử của Ngài: " Này các Tỳ kheo, hãy lắng nghe, ta khuyên các thầy: các pháp hữu vi đều phải hoại diệt - Hãy nỗ lực tinh tấn!"
Trong khi Ngài chánh niệm nằm hông phải, hai



phải là loại chứng đắc có thể chịu cái chết. Cái thân hay cái hình tượng vật lý của Gotama chết nhưng một trạng thái Phật xảy ra sau cái chết không thể diễn tả bằng ngôn từ được. Hãy tạm bảo rằng một vị Phật thì không chết ( xem thêm phần nói về Niết Bàn, nguyên nghĩa là "dập tắt").
cây Sala rải hoa thơn trên Ngài, các nhóm đệ tử vây quanh cúng bái giữa chư thiên là loài người trong sự vắng lặng, Ngài vượt qua các cấp độ Thiền thức và đi vào vô dư Niết Bàn. Chư đệ tử hỏa thiêu thi thể Ngài và dựng lên ở nhiều nơi những tháp đựng Xá Lợi. Pháp được tiếp tục truyền bá và Đại đế Asoka (A dục) vị Hoàng đế Phật tử nổi tiếng nhất đã cổ động công cuộc truyền bá này. Phật giáo đã tồn tại 1700 năm ở Ấn Độ, nơi phát sinh ra nó, đồng thời truyền bá tới Tích Lan, Nepal, Miến Điện, A Phú Hãn, Trung Á, Việt Nam, Indonesia, Trung Hoa, Thái Lan, Campuchia, Lào, Triều Tiên, Nhật Bản, Tây Tạng, Mông Cổ, Siberia, v.v. Các " sứ giả" của Phật pháp cũng đi đến tận Alexandria, Hy Lạp và Cyprus ở phương Tây và tận phía đông Trung Mỹ, mặc dầu những nhóm riêng rẽ này không thể hưng thịnh lâu dài lắm. Phật giáo Ấn Độ sau cùng bị đè bẹp bởi những cuộc xâm chiếm tàn nhẫn của Hồi giáo, tiến hành bằng lửa và gươm. Bất cứ nơi nào Phật pháp đến, nơi đó tiếp thu một nền văn hóa tốt đẹp. Ở mọi nơi, Phật pháp sản sinh ra những biểu tượng nghệ thuật tuyệt diệu, những biểu hiện bên ngoài của lòng tin của các dân tộc. Tháp Xá Lợi là biểu tượng tính chất đặc biệt của Phật Giáo và người ta tìm thấy ở Thái Lan những mẫu Tháp Xá Lợi huy hoàng khắp xứ, đặc biệt ở Makorn Pathon.
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »