Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 30: Bố thí và Bố thí Ba la mật (Trang 151 - 154)

Dù chúng sanh vô số, tôi nguyện
                                cứu độ hết thảy
Dù là các căn bản Bất thiện là vô tận,
                                  tôi nguyện đoạn trừ hết
Dù các pháp Tu nhiều vô lượng,
                                     tôi nguyện học trọn.
Dù thắng tuệ là vô biên, tôi nguyện vượt qua.
Dù chư Phật nhiều vô sô kể, tôi nguyện
                                           tôn thờ tất cả.
Nội dung ý nghĩa của các hạnh nguyện ấy rất hữu ích đối với một số người  vì các hạnh ấy đánh thức các động lực vị tha trong việc thực hành Phật pháp. Nếu được như vậy thì họ đã phục vụ mục tiêu của họ và dĩ nhiên không nên hiểu chúng một cách quá nôm na ( chẳng hạn, cả đến đức Phật cũng không thể giáo hóa được hết thảy mọi chúng sanh vì một số chúng sanh có các bất thiện căn quá mạnh không thể hiểu Ngài). Sau hai thứ sơ khởi, xả ly và nguyện này là những sự tu tập căn bản về các Ba la mật.

Bố thí và Bố thí Ba la mật
Bố thí cũng có thể được gọi là sự bao dung, đứng đầu con đường thường được khuyến giáo dành cho sự tu tập của các cư sĩ: Bố thí, Giới, Định. Tại
sao Bố thí quan trọng như thế? Nếu cần có tiến bộ trên đạo lộ của đức Phật, chúng ta cần phải đảo ngược con đường phàm phu" thường tình" của chúng ta. Phàm phu nói về " sự nhận được", Đạo lộ nói về "sự Bố thí". Nhận được các sự vật ngày càng nhiều hơn có nghĩa là ngoài việc trở nên ích kỷ hơn theo lối thông thường ra, chúng ta còn tăng cường cảm thọ của chúng ta về cái "tôi là" bằng một đống các sở hữu mà tuyên bố với chúng ta, và mọi người khác rằng " tôi có". Việc này sẽ không đưa đến ngay cả hạnh phúc trần thế mà người ta vẫn tưởng là thực thì còn nói chi đến việc cho phép người ta đi trên Con Đường tâm thức được? Con đường này đòi hỏi một ý thức từ bỏ mạnh, một sự nới lỏng các mối ràng buộc, trói cong người với sự vật, và một sự an tịnh có hiệu quả của tâm, tất cả thế nào cũng dẫn người ta một cách vững vàng vào hướng hiểu biết rằng " tôi là" là thực sự sai lầm. Như thế đối tượng của Bố thí là phá đổ, hay ít nhất là khởi sự phá hủy những tường thành ngục tù của cái     " tôi có". Ngoài sự giải thích căn bản này, hành động Bố thí là được thực hành tử tâm, tiến hành ít ra cũng từ niềm tin tinh thần rằng hành động bố thí là có công đức, rằng những người mà việc bố thí hướng đến ( thường là chư Tăng, Ni) là thanh tịnh và cố gắng sống đời sống thiện, và rằng người bố thí được hưởng kết quả đảm bảo một sự tái sinh hạnh phúc, nếu không có gì hơn thế nữa. Sự thực hành bố
thí của Phật giáo không bao giờ chờ đợi một đền đáp nào, đối với của bố thí: đền đáp duy nhất mà ta nhận được từ sự bố thí là ở trong tâm ta, tâm nhờ đó mà được thanh tịnh, vì khi ta hoan hỷ trong việc thiện thì tâm trở nên nhuần nhuyễn và sự tu tập của ta sẽ dễ dàng hơn. Đâu có thể có đền đáp nào lớn hơn thế nữa? Cho dù một người nghèo khó, người ấy cũng vẫn có thể cho những tặng vật lớn: tặng vật của từ ái làm khởi lên nơi những người khác sự tín nhiệm và lòng tin tưởng mà đối với họ nó là tặng vật vô úy, bất cứ một vật gì dù nhỏ mà người ấy có - người ấy bố thí với sự hoan hỷ. Bố thí cũng bao gồm sự giáo dục, các công đức của Phật pháp. Giáo dục tốt là một phần của truyền thống Phật giáo và ngày xưa chư tăng là thầy giáo ở khắp nơi, thành thị và thôn quê, đã dạy học các đề tài mà thời ấy cần cho một nền giáo dục tốt. Thực sự chư tăng là một mẫu mực cho đời sống của các học viên của mình và như vẫn đã dạy cho họ các con đường thiện hạnh, trong khi nền giáo dục ngày nay, phức tạp hơn, chỉ nhấn mạnh trên việc tiếp thu các sự kiện nên thường không thể truyền thụ được những con đường thiện hạnh như thế. Vì truyền thống Phật giáo không bao giờ dẫn đường cho các đám người mù đi trong si mê của họ, nhưng luôn luôn khuyến khích một sự tìm hiểu sáng suốt. Vì thế người ta không ngạc nhiên khi thấy trong khuôn viên hầu hết các ngôi chùa ( wat,
tức vihara) hay tu viện ở Thái Lan đều có một trường học.
Công đức, như đã nói trên, không thể thực sự thuộc cá nhân và công đức thực sự được tạo ra bằng cách ban bố công đức của mình. Đây là một cách dạy rằng người ta đừng để bị ràng buộc cả đến những kết quả thiện hạnh mà dùng thiện hạnh vượt qua khỏi công đức và phi công đức để đi đến Niết bàn.
Khi đức tính này được phát triển để trở nên một Ba la mật, nó là đặc tính của một người Phật tử đã đi xa trên đường đạo, dù người ấy là một vị Bồ tát hay không. Vị ấy bố thí như thế nào? Được hướng dẫn bởi trí tuệ là thứ sẽ ngăn ngừa việc bố thí có thể gây nên sự tổn hại, một người toàn hảo trong bố thí thì bố thí ngay mọi thứ cho mọi người xin hỏi. Lại có những chuyện bổn sanh nêu rất rõ hạnh Ba la mật này. Như là chuyện bổn sanh của Thái tử Vesantara, một câu chuyện xúc động và nổi tiếng, hẳn đã để lại nhiều dấu tích trong văn hóa Phật giáo tại nhiều nước, tại đấy câu chuyện này đã rất phổ biến. Chuyện kể Thái tử tiến hành bố thí với tấm lòng rất rộng rãi đến nỗi các vị đại thần của Ngài xem Ngài như là một người độc nhất để trị vì. Bị đẩy vào rừng, Ngài tiếp tục tặng mọi thứ còn lại cho bất cứ ai xin, kể cả đến vợ con cùng đi với Ngài. Trong khi sự việc này nghe quá đáng đối với suy nghĩ hiện đại,
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »