cho người khác (1). Khái niệm tĩnh về tính chất bị ràng buộc bởi ý niệm về thường hằng và sự hiện hữu của một cái ngã linh hồn, là xa hẳn tư tưởng và sự thực hành của Phật giáo. Qua giáo lý của Ngải, đức Phật khích lệ mọi người nổ lực để chứng ngộ cảnh giới cao hơn theo con đường trung đạo của tu tập đưa đến toàn thiện.
Con đường Trung đạo của tu tập
Trước khi phát họa sự tu tập Phật giáo, cần nói ít điều về con đường mà từ đó người ta có thể đi đến toàn thiện. Con đường này thường được gọi là Trung đạo, sẽ chính xác hơn nếu được dịch là Con Đường Trung đạo của Tu tập. Ở đây chúng ta phải hoàn toàn hiểu rõ rằng khi Đức Phật dạy Con Đường này là để trách mọi cực đoan, thì chúng ta không nên hiểu Trung đạo có nghĩa là một loại dung hòa giữa mọi sự vật của người Anglo -Saxon! Trong khi
(1) Cả trong đời đức Phật lẫn ngày nay, có người đã bảo rằng Phật giáo là " vị ngã" (ích kỷ). Đây quả là một sự lên án không bình thường! " trước khi" người ta muốn giúp đỡ về tâm linh cho những người khác thì cốt yếu là phải tự giúp mình đã. Đức Phật dạy: "làm sao một người bị mắc trong bùn lại có thể kéo một người khác ra khỏi bùn được?" Những người phật tử tin rằng việc cứu vớt những người khác chỉ có thể được thực hiện một cách hiệu quả khi ít ra ta đã có được cách nào đó để cứu vớt chính mình. Câu trên cho thấy sự không tương xứng của ngôn ngữ, vì trong Phật giáo, tự cứu mình có ý nghĩa thoát hẳn những khái niệm vi thế nhất về ngã phải được gọi là vô ngã, là " hiến mình" cho " lợi lạc và hạnh phúc của trời và người".
sự dung hòa cũng có những lợi ích của nó nhưng không phải là ý nghĩa của Trung đạo tránh các cực đoan. Vậy thì Con Đường, tức Chánh pháp có nghĩa " Trung" (ở giữa) về những mặt nào?
" Trung" ở đây có rất nhiều ứng dụng mà chỉ có thể đề cập một ít, nhưng một cách căn bản nó có thể được định nghĩa là sự vượt qua các cực đoan bằng con đường Phật pháp. Chúng ta hãy xem xét một số ứng dụng của nguyên tắc này thì ý nghĩa sẽ trở nên sáng tỏ hơn. Trong bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, bài " Chuyển Pháp Luân", Ngài nói đến hai cực đoan bất lợi và bất xứng cho công hạnh tu tập của những người đã từ bỏ gia đình để sống đời sống tu hành. Một cực đoan là chiều theo dục lạc (có nghĩa là chịu thua Bất thiện Căn về Tham), còn cực đoan kia là hành hạ thân thể (có nghĩa là đầu hàng Bất thiện Căn về Sân - ở trường hợp này là tự ghét mình). Thêm nữa, Ngài nói đến con đường tu tập trung đạo của Ngài tìm thấy như là kết quả giác ngộ mà đi theo con đường ấy, nhờ Giới, Định và Tuệ, người ta sẽ tiến bộ dần dần ( nhanh hay chậm tùy thuộc vào sự yếu kém hay mạnh mẽ của các ô nhiễm tâm thức như là các Bất thiện Căn), từ đó nhiếp phục và sau cùng sẽ đoạn trừ hết các Căn bản Bất thiện. Ở đây ta thấy Trung Đạo hoạt động vượt lên các cực đoan trong lãnh vực tu tập.
Chúng ta hãy đi vào phương diện khác của đặc
tính con người - sự chấp thủ các tri kiến. Các tri kiến, hoặc là các suy lý, các sự chấp nhận giáo điều, hoặc là các biện giải được truyền thống Phật giáo định nghĩa là sự hiểu biết bất toàn, bị các tác động hỗ tương của các Căn bản Bất thiện chấp lấy, tin vào, làm méo mó mó đi. Sự tranh cãi không dứt của các triết gia, các nhà thần học và các nhà chính trị cứu đời của thời đại chúng ta, sẽ lắng dịu đáng kể nếu mọi người hiểu rõ rằng tại sao người ta cứ bảo thủ các niềm tin thế này, thế nọ. Một tín đồ thì ít khi thắc mắc nhưng những người lãnh đạo còn phần việc phải suy tư nữa thì họ lại không hiểu rằng lòng tham ái của chính họ nằm đằng sau các quan điểm mà họ diễn tả. Tham ái được phân làm ba loại: dục ái, hữu ái (lòng ham muốn được hiện hữu) và vô hữu ái. Ta dễ dàng thấy rằng chủ nghĩa duy khoái lạc vật chất có nền tảng từ dục ái, trong khi đó các tôn giáo duy vĩnh cửu về Thượng đế, linh hồn, đời sống bất diện .v.v. có căn nguyên từ hữu ái. Từ vô hữu ái phát sinh các hệ thống hư vô chủ nghĩa. Trong khi dục ái và hữu ái bắt rễ từ Tham thì vô hữu ái có căn nguyên từ Sân. Con đường Trung Đạo của tu tập vượt hẳn lên mọi tri kiến vì các tri kiến thì chỉ là tri kiến và vì khi được phân tích thì chúng chỉ là những ám ảnh phiến diện có gốc từ một thứ tình cảm mạnh mẽ và thường kín đáo.
Nếu bây giờ chúng ta khảo sát quá trình tu tập
thì Trung đạo của Tu tập sẽ được thấy là kiến hiệu đối với các ám ảnh thuộc tình cảm này. Người ta phản ứng lại sự khởi dậy của một loại tình cảm nào đó như thế nào? Thường thường có hai loại phản ứng, đó là hoặc là buông theo, hoặc là đè nén. Dù phản ứng bằng cách nào đi nữa thì con người cũng chỉ đi đến sự gia tăng khổ đau hay dukkha mà mình phải chịu đựng. Ở đây, Trung đạo của tu tập là gì? Đó là Con Đường Chánh niệm mà phần kế tiếp sẽ bàn tới và nhờ con đường này mà thay vì vướng mắc thêm vào sự miên tục lang thang của sinh tử, người ta tìm ra con đường ra khỏi.
Trung đạo thấm nhuần vào đời sống của một Phật tử, hướng dẫn người ấy tu tập một cách thiện xảo, sau cùng sẽ vượt qua cả đến những phương diện vi tế nhất của tri kiến trong việc nhổ bật gốc rễ các Căn bản Bất thiện để thể nghiệm Chân lý trong sự Chứng ngộ Phi kiến của Bậc Giáo ngộ.