bản chất của ngũ uẩn. Đây là cái chân lý đến củng với sự tự do, thoát khỏi mọi trói buộc. Nó không trói buộc vào những quá trình khái niệm mà hoàn toàn vượt ra khỏi chúng.Nó không liên hệ với điếu nhận thức do giác quan ( hay ý thức) và do đó, chắc chắn không thể nào miêu tả nó được. Đức Phật và Chư đạo sư thuộc truyền thống của Ngài đã cẩn thận không dùng quá tải ngôn từ để thay cho chân lý tối hậu với quá nhiều ý niệm, vì cái chân lý được diễn tả như thế sẽ trở nên bị khái niệm hóa và do đó bị hiểu sai lạc. Truyền thống Phật giáo đã loại bỏ cả những danh xưng được tôn vinh lâu đời trỏ cho chân lý, khi các danh xưng ấy bị tô quét bằng ý niệm; như thế có thể có lợi cho hàng học nhân, nhà nghiên cứu nhưng lại gây trở ngại cho những ai muốn hành trì, và chính dòng chánh pháp lại nhằm cho những kẻ hành trì ấy. Chân lý tối hậu này thường được diễn tả bằng những từ ngữ phủ định vì với những từ ngữ này, trí óc ít có việc hình dung mà chấp thủ những khái niệm.
Niết bàn ( Nirvàna)
Chẳng hạn, Niết bàn ( có thể được nêu trỏ bằng nhiều cách) là một từ thuộc loại như trên. Niết: (Nir) là một phủ định phân từ, và bàn: (vana) có thể giải thích bằng nhiều cách khác nhau. Nó có nghĩa
là: " thổi tắt" như một ngọn nến bị gạt đi (1), (chấm dứt của sự cháy liên tục của lậu hoặc), hoặc Bàn ( vana) rừng, đốn ngã những cây vô minh, tham dục.Đây là một cách giải thích Niết bàn. Nó cũng đã được giải thích bằng một tỷ dụ nổi danh về Ngọn Lửa Cháy. Đức Phật hỏi một người đến tham vấn Ngài rằng một ngọn lửa có tiếp tục cháy không nếu như cái cành khô và cỏ chồng chất lên nó. Người ấy xác nhận rằng lửa vẫn cháy. câu hỏi tiếp theo của Phật là điều gì sẽ xảy ra nếu như người ta không đưa nhiên liệu vào ngọn lửa ấy nữa. Người đến tham vấn ấy trả lời rằng chắc chắn lửa sẽ tắt. Cũng thế, trong cuộc sống thường nhật hầu hết người ta chất vào ngọn lửa bằng nhục dục vả thế là đảm bảo sự hiện hữu triền miên trong cõi sanh tử này. Người trí thôi không nuôi dưỡng ngọn lửa ấy và thế là nó sẽ tàn diệt đi vì thiếu nhiên liệu. Thế thì không hỏi rằng ngọn lửa kia đã đi về đâu thì câu hỏi ấy có ý nghĩa gì không? Để trả lời, người kia thừa nhận rằng câu hỏi ấy chẳng có nghĩa lý gì cả vì rằng lửa chỉ có thể
(1) Giải thích như thế này đã khiến một sô người lầm lạc mà cho rằng Niết bàn là một sự dập tắt hoàn toàn, dù rằng Đức Phật đã phủ nhận chính điều này một cách rõ ràng. Niết bàn là một thứ vượt ra ngoài các ngôn từ hẳn nhiên không thể giải thích bằng từ " đoạn diệt' mà tốt hơn các từ khác được. Nếu Phật pháp tuyên bố rằng mục đích của Phật pháp là sự dập tắt thì thật là buồn cười khi cho rằng Phật pháp đã phát triển và truyền cảm tâm người ta suốt hai mươi lăm thế kỷ tại nhiều nước.
cháy khi các điều kiện cần thiết có mặt và khi các điều kiện ấy vắng mặt thì lửa sẽ tắt đi. Đức Phật lưu ý rằng đối với bậc toàn Thánh, cũng chẳng có nghĩa lý gì cả khi hỏi rằng vị ấy đã nói đến nơi nào (khi thân thể chết đi). Đây là điều mà ngôn từ không thể diễn tả được.
Niết bàn cũng còn liên hệ đến ý nghĩa: " Trở nên thanh lương" (mát mẻ). Khi những dục vọng bùn cháy trong cuộc đời khổ đau phiền muộn này bị dập tắt thì tâm không bị dao động gì nữa. Không bị tác động, không bùng cháy, tâm an hưởng tịnh tịch hay thanh lương.
Một sự miêu tả rất quan trọng về Niết bàn nữa là gọi Niết bàn là Bờ bên kia ( bỉ ngạn). Bờ bên này của con sông được xem là nguy hiểm với nhiều thứ gây kinh hãi. Nhìn qua dòng nước, bờ bên kia được trông thấy an toàn, là nơi đẹp đẽ. Con người quyết tâm chặt cây làm một cái bè vượt qua sông để đến bờ bên kia. Đến bờ kia, người ấy rời bỏ chiếc bè và đi theo con đường của mình một cách hạnh phúc. Tỉ dụ này cho ta biết nhiều về cả Niết bàn và Pháp. Về Pháp thì ta nên chú ý đến sự nhấn mạnh về những điều kiện bất an,khổ đau torng cõi sinh.
Đứng từ chỗ chúng ta đây mà nhìn tới cõi mà chúng ta cho là Niết bàn thì cõi ấy được xem là trú xứ an toàn, thoát ngoài mọi khổ đau. Quyết tâm là
cần thiết đề khỏi sự làm một việc gì và sau đó phải có nghị lực bền bỉ để vượt dòng sông- dòng sông của biến dịch thường xuyên. Chiếc bè mà ta đi là Pháp và vì bè phải được buộc chắc thì Pháp cũng phải được hiểu rõ. Cũng thế, khi vượt sông, cần phải nhắm đúng hướng để khỏi trôi dạt theo dòng, nghĩa là Chánh Kiến ( xem I, Đau khổ và Hạnh phúc) thì cần thiết để chỉ đường cho người ta vì nó tránh cho người ta khỏi bị trôi lệnh hướng bởi những lời lôi cuốn của những ràng buộc thế gian; ưa ghét, v.v. Một khi đã đến Bờ Bên kia thì người ta nhận biết Pháp ở chính trong tân mình và nhờ sự hộ trì dẫn dắt của Đức Phật, người ta mới khám phá pháp ấy cho chính mình. Chiếc bè trước kia vô cùng quý báu khi vượt sông, bây giờ có thể bỏ đi vì rằng bây giờ không phải người ta biết về sự Chứng Ngộ của Đức Phật Cồ Đàm một cách gián tiếp qua những lời dạy của Ngài được ghi lại mà chính là biết trực tiếp về sự chứng đạt của mình. Một bậc Thánh như thế đi trên Đạo lộ mà cả đến Chánh pháp vị ấy cũng không bị ràng buộc. Cả đến Niết bàn, bậc trí cũng không bị ràng buộc. Vị ấy hoàn toàn thắng vượt mọi vấn đề liên quan đến Niết bàn hay Chứng ngộ, là những vấn đề lắm khi ngăn ngại cái thấy của Phàm nhân. Cách cuối cùng có thể định tính Niết bàn là Niết bàn là Phi Duyên sinh và Vô Vi. Các sự việc trong thế giới sinh tử này như chúng ta đã ghi nhận trên
kia, đều do duyên sinh và hữu vi do bởi một số yếu tố mà khi các yếu tố này hiện diện thì các sự vật khởi lên và khi chúng vắng mặt thì các sự vật không khởi lên hoặc suy tàn đi. Niết bàn đối lập với hiện tượng monh manh và phức cấu như vậy - nó không bị lệ thuộc vào điều kiện và do dó không khởi lên, không hiện hữu tùy thuộc vào điều kiện, cũng không biến đi. Đây là một dẫn dụ tốt về cách nói tới Niết bàn bằng " diễn tả phủ định". Độc giả bực mình về những chuỗi phủ định như thế, hẳn phải kêu lên " Này, thế thì Niết bàn là cái gì chứ?" Người viết chỉ có một cách là để đáp lại: " Hãy hành trì đi mà tìm ra cho mình". Nhưng để cho thuận đẹp, Niết bàn cũng được gọi là hạnh phúc tối thượng, một nơi Nương náu An toàn và còn được mệnh danh bằng nhiều tên khác, gợi lên trong tâm ta một cách thi vị về một đáp ứng mà bấy giờ khái niệm cần phải trở thành vô dụng.
sai khi đã đề cập đến những cấp dộ cao vời của Niết bàn và đã nỗ lực bằng cả hai cách diễn tả khẳng định và phủ định mà bảo rằng Niết bàn lá gì, bây giờ cần phải loại bỏ một sô ngộ nhận về Niết bàn khi xác quyết những gì không phải là Niết bàn. Thực bất đắc dĩ mà phải làm thế, ngặt vì vô minh và khát ái chặn đường, ngăn cản đến cả cái hiểu biết nguyên sơ về Niết bàn khởi lên trong mỗi người chúng ta. Đây là trường hợp bây giờ và trước kia
Cũng phải luôn luôn như vậy, Đức Phật đã phải đối trị với biết bao nhiêu những ngộ nhận (1) như thế trong khi Ngài thuyết dạy, vì rằng mối ngăn ngại cho nhiều người là họ thích khái niệm hóa lý luận về Niết bàn hơn là thích đạt Niết bàn ( khuynh hướng không nay này vẫn còn trong nhân loại). Rõ ràng, người ta có khuynh hướng quan niệm về cứu cánh tuyệt đối của tôn giáo theo hai cách. Phần lớn các trào lưu tôn giáo trên thế giới đều suy nghĩ về tuyệt đối theo nghĩa sự hiện hữu Tuyệt đối và cho rằng kẻ nhập vào hiểu biết tuyệt đối ấy (hoặc an trú cùng nó) thì sẽ được hưởng sự sống đời đời ( hoặc là hòa đồng với tuyệt đối (2) mà cùng nó hay cùng vị ấy, hoặc là ở một mức độ nào đó có phần nhị nguyên).
(1) Nhiều người đã xem Niết bàn, cứu cánh của Phật giáo như các cứu cánh của các tôn giáo khác. Theo tôi, vấn đề không phải là các cứu cánh ấy có giống nhau hay không mà là căn cứ vào đâu mà có những tuyên bố là giống nhau. Nếu đấy là căn cứ vào sự so sánh của các miêu tả trong các sách của các tôn giáo khác nhau thì như thế là người đang so sánh các thể nghiệm trong khi người ta chỉ có cái học sách vở. Những ai đã thể nghiệm cứu cánh sẽ không thích tranh cãi. Phạm vi duy nhất có hiệu quả để nghiên cứu trong tôn giáo tỉ giảo là kết hợp với thực hành và thể nghiệm nhưng ở đây nhà học giả kinh viện sẽ ngợp sức. Đức Phật đã khuyên nên thực hành chứ đừng so sánh.
(2) Lời thơ của Sir Edwin Arnold “ giọt sương rơi vào trong Biển Sáng” dù là một hình ảnh rất thi vị cũng không phải là một minh họa thật tốt về Phật pháp. Không có hạt sương (một linh hồn – một thực thể) nào rơi trong Biển ( nối kết với Tuyệt đối). Bảo như thế là xem Niết bàn như một thứ nguyên lý vô ngã và truyền thống Phật giáo lại cũng chống với điều này bằng cách nhấn mạnh rằng ngay cả Niết bàn cũng không có một thực thể an trú nào cả ( sabbe dhammà anatta”). Thượng đế, dù khoác áo hữu ngã hay vô ngã, theo như chính bản chất của Chánh pháp, không thể có chỗ đứng nào trong Chánh pháp cả.
Đây là quan điểm cực đoan của Vĩnh cửu luận.Lắm trở ngại đã xảy đến vì người ta không hiểu ra được rằng ngôn từ khiếm khuyết của mình vốn thích hợp cho sản xuất, cho đấu tranh hay cả cho triết lý, lại không ra gì khi người ta khởi sự đối đãi với Tuyệt đối. suy luận, như Đức Phật đã tuyên bố rất rõ, là vô ích. Hoặc là bạn biết, hoặc là bạn không biết. Không một kết quả nào về tranh luận những khúc chiết lý thuyết lại giải quyết vấn đề. Sự suy luận như thế gọi là Quan điểm Sai lầm ( tà kiến), sai lầm vì nó dẫn đi sai Niết bàn; và sai lầm vì nó được xây dựng trên các căn bản Bất thiện.
Đức Phật đặc biệt dạy rằng người ta không nên rơi vào sự tin tưởng cực đoan mà cho rằng kẻ nào đạt Niết bàn trong khi sống thì sau khi chết sẽ tiếp tục hiện hữu “ trong Niết bàn”. Ngài đã thấy mối nguy hại nào trong điều này? Một học thuyết như thế cho rằng một cái ngã hay linh hồn tiếp tục “trong Niết bàn”. Một cái ngã hay linh hồn được người ta nghĩ rằng là sở hữu của mỗi người hoặc là cái “ngã” thực của người ấy. Hễ cái gì là sở hữu thì ngay đến những cái tinh tế như linh hồn hay ngã cũng thực sự gây một trở ngại cho việc đạt Niết bàn. Kinh điển Phật giáo đặc biệt nhấn mạnh rằng ngay cả Niết bàn cũng không liên hệ chi tới cái “ngã linh hồn” và điều này ngăn ngừa hai việc: đạt Niết bàn mà còn ham muốn và khư khư giữ lấy cái “ ngã linh hôn”, cũng
như loại bỏ ý nghĩ cho rằng Niết bàn là một thứ “ ngã siêu việt”, “ ngã vũ trụ”, v.v. và v.v. Vì vậy, kẻ nào thể hội được Niết bàn vốn vô ngã thì phải thể hội cái “tự ngã” là “ vô ngã”. Mọi ý tưởng về vĩnh cửu luận, nếu được phân tích, sẽ chỉ là một lý thuyết về một” cái-tôi-tinh tế-liên tục”, nói một cách khác, kẻ nào không hoàn toàn chối bỏ lý thuyết thì do thế, còn mang một “ ngã kiến”.
Một số ít giáo lý, tôn giáo và triết học trình bày cho người ta tin một quan điểm cực đoan diệt luận. Nói một cách khái quát, quan điểm này tuyên bố rằng thế giới của người ta thì bắt đầu bằng sự ra đời và chấm dứt bằng cái chết. Các giáo lý ấy cho rằng đây là đời sống độc nhất và đặc biệt nhấn mạnh rằng ở đây và bây giờ lúc thực hiện và thu đạt mọi sự. Thế nhưng trong khi một mặt giáo lý này tỏ ra ưu ái vì nó đảm bảo cho những vấn đề của cuộc sống không bị ngưng trệ thì mặt khác nó thường đưa đến cho thái độ con người một lý thuyết máy móc và cũng thường đưa đến chủ nghĩa thiên trọng vật chất thuần túy. Khuyết điểm lớn của nó là nó không thu hút người ta được lâu: rõ ràng là các trào lưu thuộc này ( một số cùng thời với Đức Phật và với các Carvakas Ấn độ cổ) đã không tồn tại lâu dài. Các trào lưu ấy không thỏa mãn được khát vọng tâm linh của con người và sau một thời gian, người ta sẽ tìm kiếm
những lý tưởng khác thực sự mang tính chất tôn giáo hơn. Mặt khác, các quan điểm vĩnh cửu luận thực sự mai mối cho con người khát vọng mình được tương tục và vì thế nên các quan điểm này nhanh chóng được ủng hộ và nẩy nở. Phật giáo dù cho rằng quan điểm vĩnh cửu ít độc hại hơn quan điểm đoạn diệt, cũng chẳng khích lệ gì quan điểm ấy mà muốn rằng các tín đồ của mình, bằng cách hành trì, loại bỏ bất cứ mọi quan điểm nào. Quan điểm đoạn diệt ngoài việc không hấp dẫn được người ta, đôi khi còn có thể khuyến khích người ta hưởng cho riêng mình những thú vui của hôm nay mà nhún vai bất cần ngày mai. Vì các tôn giáo hữu thần minh họa một sự phán xét của Thượng đế vào một lúc nào đó sau khi chết nên quan điểm này phản đối cái vũ trụ do Thượng đế cai quản mà có thể tuyên bố rằng chẳng có một thưởng phạt nào cả. Người ta có thể làm gì mà người ta thích, cứ hưởng thụ ngay bây giờ, chẳng có gì cả sau cuộc sống này. Nếu quan điểm cực đoan này đưa đến tình trạng như vậy thì giáo lý nhà Phật nghiêm khắc phê phán nó rằng nó dẫn dắt những người tin theo nó đến chỗ thất bại. Đức Phật đã tuyên bố rất quả quyết rằng kẻ nào bảo Ngài đã dạy một học thuyết đoạn diệt là kẻ đã diễn dịch lại không đúng ý Ngài. Ngài chỉ xác nhận rằng Ngài đã dạy về sự đoạn diệt của Tham, Sân, Si mà thôi.
Còn về “ Người nhập Niết bàn” và điều xảy ra
cho người ấy thì chúng ta đã thấy rằng “ người” chỉ là một sự thật quy ước, đúng hơn, ta nên nói là “ một sự tương tục của một quá trình trống rỗng”. Không cần phải nói rằng dù lời nói trơ trụi, chói tai được dùng ở đây để diễn tả một người, Bậc Chứng Ngộ cũng chẳng hề bị gán cho cái tính chất như là một kẻ khô héo hoặc như là một kẻ chỉ hoạt động bằng một thứ máy móc siêu việt. Một số Phật tử thiếu vững vàng đã suy luận về một Hạt Giống (chủng tử) Chứng ngộ bị chôn vùi dưới những lớp bùn vốn là những ẩn tích chất chứa của nghiệp, chờ lúc thuận tiện mà kết thành quả. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng Đức Phật khuyến khích hành trì và ngăn cấm suy luận. Do đó, chúng ta cần hiểu rõ rằng tại sao Ngài dạy về Vô ngã. Ngài không chú ý đến việc nêu rõ những miêu tả tổng quát về những bản chất siêu hình bằng sự tuyên bố trắng ra đại loại như bảo rằng: “Không có ngã”. Đây là một quan điểm thuộc suy luận. Ngài cũng không có ý thiết lập những học thuyết, giáo điều như: “ Người phải tin rằng khôn có ngã”, vì như thế là chấp nhận vào một quan điểm suy luận để làm chỗ tựa tình cảm. Ngài lòng Đại bi, chắc chắn Ngài đã bỏ ra nhiều nỗ lực để trỏ cho người ta con đường vượt mọi khổ đau. Giáo lý Vô ngã hay Vô bản chất là giáo lý quan trọng chủ yếu của đạo, nó thiết yếu, nó rất thực tiễn. đó là lý do tại sao cô ngã được thuyết giảng. Từ bỏ hết mọi kiến lập
sau khi Ngộ, Người ta thể hội trong tâm mình rằng đây là sự thực. Nói một cách rốt ráo: chẳng có ai vào Niết bàn và không có ai vào nên không có “ cái gì” để vào và cố cứ vào, như thế là không thể được. Đến đây ngôn từ lại bất lực. Một câu thơ cổ nêu:
“ Niết bàn chứ không phải có người vào Niết bàn; có con đường chứ không có người đi trên con đường”.
( Vinuddhi-Magga XVI)
Bấy giờ tưởng cũng không cần nhấn mạnh rằng Niết bàn không phải là một nơi chốn, một tinh cầu hay một cõi sống. Kẻ ngây thơ hay thiếu học có thể nghĩ đến Niết bàn theo kiểu ấy nhưng cũng chẳng có chi làm căn cứ vững . Niết bàn do đó không cùng nghĩa với “ đến cõi trời” vì các cõi Trời là những chỗ rất xác định, không phải ở đâu có trên bầu trời trên chúng ta mà ở trên theo một nghĩa tâm linh (xem I, Cảnh giới và Nhận thức). Thực ra, Niết bàn nằm bên ngoài không – thời gian. Nó không ở đâu cả và do đó không thể vạch rõ phương hướng của nó và nó là phi thời gian vì sự chứng nghiệm nó nằm bên ngoài thời gian. Nó là vô định về mọi mặt vì nó không có đầu và không có cuối, vì nó bản chất của chính thực tại. Ngay cả đối với các Bậc Đại Thánh vốn biết rõ Niết bàn thì Niết bàn cũng không có chỗ khởi đầu khi các vị ấy gì đó vốn đã luôn luôn là thật.
Nhiều bậc Thánh của truyền thống Phật giáo vẫn thường vạch rõ cho ai tìm kiếm Niết bàn “ ở bên ngoài” và có lẽ ở tương lai, cho họ biết Niết bàn không ở đâu cả mà ngay đây và bây giờ. Chính Đức Phật cũng có lần dạy cho một đệ tử rằng chân lý được tìm thấy không phải bằng tận cùng của thế giới mà ngay ở trong tấm thân một thước mấy này. Chính cái quá trình tư duy sai lầm của chúng ta đã ngăn không cho chứng được Niết bàn trong lúc hiện tại: Sự si muội của chúng ta về một cá nhân, “ tự ngã” ngăn ngại cái thấy. Chúng ta vẫn được nghe nhiều tuyên thuyết ý vị về sự liễu ngộ, thế giới này sẽ kỳ diệu hơn lên biết bao nhiêu một khi trở ngại kia không còn trở ngại nữa.
Nhiều đệ tử của Phật ngay lúc chứng ngộ đã tuyên bố rằng sự thay đổi xảy ra lúc ấy thực là đơn giản nhưng lại thực là kỳ diệu thâm trầm. Rõ ràng thực giống như một người đã trải qua suốt cả cuộc đời nhìn thế giới trong một tấm gương sai méo mó, và rồi lần đầu tiên nhìn thẳng vào thế giới, hoặc đôi khi được so sánh với một người thức tỉnh khỏi thế giới kỳ quái của mộng mị rồi chứng nghiệm được bản chất hư ngụy của mộng mị và sự sáng sủa của ý thức tỉnh táo. Do đó, đối với phàm nhân, thế giới sinh tử và Niết bàn lý tưởng hẳn phải cách biệt nhau lắm: Bậc Thánh ( như Phật và A La Hán) nhìn sự vật một cách khác và đối với vị ấy, sự vật cũng