Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 49: Tối thắng tuệ và Tối thắng tuệ Ba la mật (Trang 249 - 254)

chẳng khác gì, phàm nhân nhìn sự vật tùy thuộc vào sự hiện diện của các căn bản Bất thiện của mê lầm… và Thánh giả nhìn sự vật bằng Trí tuệ vô ngại.
Tôn giả Upasiva một lần kia hỏi về điều kiện của một người đạt đến Niết bàn ( đến cứu cánh):
“ Kẻ đạt cứu cánh không hiện hữu nào?
                                (đoạn diệt luận)
Hay là vị ấy mãi mãi an trú, thoát khỏi khổ
                                        đau? (vĩnh cửu luận)
Hỡi bậc Thánh, xin ngài giảng rõ cho tôi.
Vì chắc chắn Pháp này Ngài đã liễu giải”      
Đức Phật trả lời:
“ Kẻ đạt đến cứu cánh, không có chi đo lường
                                                         vị ấy,
 Không có chi có thể gọi tên người,
Khi đối với người các pháp đã diệt tận.
Thì mọi đường thuyết giảng cũng diệt luôn”.
Để đạt đến Giác ngộ Tối cao này, và để soi sáng bản chất của nó, có Ba la mật cuối cùng trong danh sách Mười Ba la mật mà chúng ta sắp bàn đến.
Tối thắng tuệ và
Tối thắng tuệ Ba la mật

“ Ôi sâu xa thay, Tuệ giác Ba la mật. Khó hiểu
thay Tuệ giác ba la mật. Vô hạn thay Tuệ giác Ba la mật”.
“ Thật khó đạt được lòng tin trong tuệ giác Ba la mật nếu người ta không được thực nghiệm, thiếu thiện căn và rơi vào tay của một người bạn xấu” ( thầy vụng về hay kẻ xấu) hai đoạn trích này do Dr. E. Conze dịch) nêu ý tại sao đức Cồ Đàm ngần ngại dạy người ta về Chứng Ngộ của Ngài, Ngài bảo:
“ Sau bao kiên trì, ta đạt Chứng ngộ
Như thế đã đủ, sao ta phải giảng bày nó ra?
Bị đốt cháy vì dục vọng, hậu thù, số đông đúc
                                                             ấy
Sẽ chẳng bao giờ hiểu được Pháp sâu xa này,
Pháp này vẫn đi lên ngược dòng đời,
Khó thấy vì nó tinh vi, tế nhị quá,
Những kẻ nô lệ của đam mê, sẽ không thấy
                                        được nó,
Họ bị che phủ vì đang ở trong mờ tối của vô
                                                minh”.
Tuy nhiên, do lòng đại từ bi, Đức Phật cũng thuyết giảng và vô số người đã đạt đến Tuệ giác Ba la mật nhờ những tiêu bảng do Ngài để lại. Những tiêu bảng ấy là gì? Ba pháp ấn được nêu rõ trong ba câu kệ sau đây của kinh Pháp Cú:
“ Mọi sự vật tùy thuộc điều kiện (do duyên
                                sinh) đều vô thường…
Mọi sự vật tùy thuộc điều kiện đều đầy khổ
                                                       đau..
Mọi sự kiện đều vô ngã…
Mỗi câu được tiếp:
 
“ Khi người ta nhận biết điều này với trí tuệ
                                        minh mẫn,
Chán ghét, người ta rời xa khổ đau (Dukkha)
Đấy chính là con đường đưa đến thanh tịnh”.
Trong lúc trong lòng còn tin vào thường hằng, khoái lạc và linh hồn hay tự ngã thì người ta không rời xa được Khổ đau (Dukkha) cũng không tìm thấy trí tuệ thực sự tức con đường đưa đến thanh tịnh. Chỉ khi nào người ta mệt mỏi vì các hiện tượng và bắt đầu thấy rằng chúng tạm bợ, đầy tràn cả mọi thứ khổ đau, quay quanh một cái ngã ảo tưởng thì khi ấy người ta sẽ rời xa khổ đau và đến với Trí tuệ. Tu hành như chúng  ta đã nói trên, khiến cho người ta thấy được ba Pháp ấn trong chính mỗi người và cái thấy và biết này một khi đã trọn vẹn thì người ta đạt đến Niết bàn.
Niết bàn cũng là không. Đây không phải là cái không trống rỗng của hư vô, Đức Phật và nhiều Bậc Thánh khác trong truyền thống Phật giáo đã nhiều
lần khẳng định như vậy. Đây cũng không phải là “một sự vật gì đó”  theo cách mà chúng ta vẫn thường quen suy nghĩ về sự vật. Nếu ở đây bảo rằng không có ngã hay linh hồn, không có bản chất ở bên trong cái bề ngoài biến dịch thì điều ấy không có nghĩa là một quan điểm khô khan máy móc mà người ta đạt được sau khi hiểu biết trọn vẹn về Vô thường, Khổ đau và Vô ngã. Như thế không phải là sự kỳ diệu của sự Chứng ngộ. Cái nhà tù ngã chấp tối tăm và chật hẹp của người ta bị hủy diệt đi nhưng tại nơi ấy mọc lên một tòa trí tuệ vô lượng, rực rỡ hào quang thanh tịnh và đạo lộ từ bi.
Cũng có vài cánh miêu tả kỳ lạ về Tuệ giác Ba la mật. Như có một học giả nêu ra rằng việc giới thiệu một tuyệt đối như thế tạo nên một sự hỗn loạn hoàn toàn trong lý luận vì điều gì trước kia được xem là biểu thức luận lý không còn được áp dụng nữa. Hãy cho một thí dụ: Nói một cách quy ước, đối tượng của Tuệ giác Ba la mật là Không. Hiển nhiên, một tình trạng phi nhị biên không thể thực sự có một đối tượng mà cả hai cái tên dùng để diễn tả cùng một sự vật từ những góc cạnh khác nhau. Còn nói đến Tam luận thanh tịnh (cái trống không của thể, đối tượng và hành động), rõ ràng rằng không có người thể nghiệm (khi ý nghĩa “ngã” hiện diện, Niết bàn, Tuệ giác Ba la mật hay Không không hiện diện, và khi Niết bàn “hiện diện” thì “ngã” không
hiện diện). KHông có Tuệ giác Ba la mật nào được thể nghiệm ( Tuệ giác Ba la mật không phải là một sự vật cụ thể đặt ra đó mà là Chân như ở đây và bây giờ nhưng chúng ta không biết đấy thôi), và không có hành động nào được thể nghiệm (vì rằng sự thể nghiệm giống như một dòng sông đang chảy, không có tự tính). Lại nữa, mặc dù trong ngôn ngữ quy ước, chúng ta có thể nói đến việc: “ hành trì về” Tuệ giác Ba la mật nhưng thật ra cũng chẳng cần phải có cái gì khác để biện minh cho Tuệ giác này, nó vẫn là thế hoặc là ta có được nó, hoặc là ta không có được nó. Nói một cách rốt ráo, không thể nào đạt tới (thủ đắc, được, có, sở hữu) Tuệ giác này được. Ai đâu mà có thể làm được như thế? Điều này đã như thế thì không thể minh định được lúc nào là lúc điều này xảy ra. Tuy nhiên, người ta vẫn bảo rằng tử Tuệ giác Ba la mật mà chư Phật ra đời và nói một cách quy ước, ngày Trăng tròn tháng Visakha ( tháng tư, tháng năn dương lịch) được xem là lúc Đấng Cồ Đàm “ đạt tới” Giác ngộ. Tuệ giác Ba la mật, tức Pháp trong ý nghĩa thâm mật của Pháp, là phi thời gian, không bị gắn vào bản kê thời gian con người. Nếu Tuệ giác Ba la mật không nằm ở đâu cả trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai thì chắc chắn nó cũng không nằm trong không gian. Tuy vậy, chúng ta vẫn được nghe nói rằng không có một cõi hiện hữu nào mà trong ấy không có cái không. Chúng ta lừa bẫy bởi
Tham, Sân, Si là những thứ ngăn ngại sự hiểu biết tâm ta, và khi trí tuệ tháo gỡ Tham, Sân, Si ra thì cái KHông xuất hiện và thế là hạt châu kỳ diệu của Chứng ngộ được tìm thấy.
Trong khi các kinh điển xưa cổ nhất của Phật giáo ít nói đến Tuệ giác Ba la mật, như thế là nhấn mạnh đến sự lưu tâm của Đức Phật muốn cho người ta đối đãi ngay với cái bây giờ - và- ở đây mà để cho cứu cánh cứ tiến đến, hiểu lộ ra một cách hoàn toàn tự nhiên, thì các tài liệu về sau này lại nói về Ba la mật nhiều một cách quá đáng. Những ngôn cú được miêu tả về Tuệ giác Ba la mật luôn luôn được nối tiếp theo bằng một ngôn cú khác có vẻ như trái ngược với ngôn cú trước đó, trong khi ngay cả hai ngôn cú đều đưa đến một tuyên bố trái ngược khác nhau. Cứ như thế, mọi kiến chấp đều bị đốn ngã và tỏ ra hoàn toàn khôn xứng hợp. Các ngôn cú trực tiếp khẳng định về Tuệ giác Ba la mật (rằng nó là…), các ngôn cú phủ định (rằng nó không phải là...) các ngôn cú tổng hợp  (rằng nó vừa là vừa không phải là…) và các ngôn cú liên tiếp phủ nhận (rằng nó là,cũng không là…) tất cả các ngôn cú ấy đều là khiếm khuyết cả. Chúng khiếm khuyết gì? Mọi quan điểm được hình thành bằng trí óc đều khiếm khuyết cái tri kiến sâu xa về chân lý mà nếu kẻ nào muốn đạt đến thì phải vươn tời bằng hành trì, bằng sự trợ lực của các Thiện Căn và
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »