tâm thức không hoạt động, và triều cái đối nghịch là trạo cử, còn gọi là tâm con khỉ hay " viên tâm" chuyển nhảy không ngừng từ đối tượng này sang đối tượng khác. Có hai điều sẽ xảy đến khi một người bắt đầu chuyên chú vào việc điều tâm và thực sự ngồi xuống để nỗ lực thực hiện là : hoặc sẽ ngủ gục và sau một lúc thì tỉnh lại với cảm giác trầm trệ, không còn nhớ gì cả, hoặc tâm giống như con suối không kềm chế được lời, ý, các dự tính, các hình ảnh, các ký ức, tất cả đòi hỏi sự chú tâm của hành giả. Đây là hai trở ngại lớn đối với việc chứng đắc. Chỉ có sự thực hành thật sự mới khám phá ra được hai triền cái ấy mạnh hơn như thế nào, hay trong hai cái, cái nào là mạnh hơn theo đặc tính của mình. Sự chứng đắc rõ ràng về một thiền cảnh có nghĩa là người ta đã phá vỡ cái " hàng rào" dục vọng và thể nhập vào một cảnh giới khác của các sự vật - Sắc Giới. Có bốn Thiền cảnh của tâm liên hệ đến bốn tầng bậc lớn của cõi trời sắc giới ấy, được biểu thị qua các cường độ khác nhau của các yếu tố tâm thức sau đây ( các thiện chi): Niệm, Lạc Hỷ, Nhất tâm và Xả.
Các yếu tố tâm thức của thiền định
Chánh niệm giữ một phần rất quan trọng trong Phật Đạo. Không phải chỉ trong việc ngồi tu định mà cả ở trong đời sống hằng ngày. Trong đời sống hàng ngày chánh niệm là đức tính thận trọng đối với cả
các sự vật lẫn các thứ sở hữu hay các hành động của thân, và đối với các trạng thái tâm thức, vì khi một Phật tử tự hộ trì bằng chánh niệm thì các bất thiện suy tàn hoặc không được phép sinh khởi. Các thiện được tăng trưởng và được ổn định. Chánh niệm trả lời câu hỏi của người mới bắt đầu tu: " Tôi có thể áp dụng Phật pháp vào đời sống hàng ngày của tôi như thế nào?". Bằng chánh niệm: đôi khi được gọi là tỉnh giác hay tỉnh thức, tính chất này bảo đảm rằng Phật pháp không phải là cái gì được khóa chặt trong kinh sách, mà là Đạo lộ rất thực tiễn. Các Phật tử được dặn cẵn kẽ những gì cần chú tâm. Chú tâm vào thân, các hoạt động và vị thế của thân, sự vô thường và sự suy tàn của thân, bản tính chấp nối của nó; vào các cảm thọ: lạc, khổ, không lạc không khổ, vào các thể cách của tâm; và vào các nhóm đặc biệt của các yếu tố hữu ích để nhận biết sự phát triển của mình trong Phật pháp.
Là một yếu tố của các trạng thái thiền định, chánh niệm được làm mạnh để trở thành sự tỉnh giác không thể tâm lang thang từ đối tượng này sang đối tượng khác, ngay cả khi thiền định đã trở nên tinh tế nhất. Thế nên sự chứng đắc bất cứ định tâm nào thì thực vô cùng quí giá. Đức Phật đã dạy riêng về chánh niệm rằng: " Chánh niệm là con được độc nhất cho sự thanh tịnh của các chúng sinh, cho sự nhiếp phục sầu, bi, cho sự đoạn trừ khổ, ưu, cho sự đạt đến chánh đạo, cho sự chứng ngộ Niết bàn ..."
Lạc và Hỷ là hai cái tên gọi mà ngôn ngữ dùng để diễn đạt rõ nhất về những kinh nghiệm hạnh phúc tinh tế khó có thể diễn đạt. Hai yếu tố này phải được trừ bỏ nếu người ta muốn tiến đến các thiền cảnh tế nhị hơn và đấy là việc khó làm nếu người ta chỉ một lần kinh nghiệm chúng. Quả thật, nhiều thiền giả bị dính chặt vào đấy mà cho rằng sự an lạc ấy là sự chứng đắc cao nhất có thể đạt được. Đấy là cái kinh nghiệm " hợp nhất với Thượng Đế" của nhiều nhà thần bí. Nó cũng là nguồn gốc của cảm thọ " đồng nhất với thiên nhiên" thỉnh thoảng cũng được tán thán. Không có kinh nghiệm nào trong những kinh nghiệm như thế lại có liên hệ với sự chứng ngộ cần phải được tìm kiếm bằng quán chiếu vào chính bản chất của thân và tâm mình.
Nhất điểm nghĩa là chỉ một đối tượng liên hệ đến tâm trong lúc chứng đắc các trạng thái này. Tâm không lang thang đây đó như nó " thường" lang thang. Điều tuyệt đối chủ yếu là nhất điểm phải được chứng đắc đồng thời được duy trì trước khi một thiền cảnh có thể được chứng nghiệm.
Xả ở đây có nghĩa là sự quân bình hoàn toàn của điều kiện tâm lý mà cuối cùng người ta chứng đắc ở cảnh giới thiền tư (tứ thiền). Khi chánh niệm và xả đã được tu tập một cách hoàn toàn trong tâm, thì có hai hướng xa hơn mở ra cho thiền giả. Vị