Thánh tính của toàn diện –
Lý tưởng phật giáo
Phần đầu của chương này của cuốn sách này đã nói về loại chứng đạt của một vị “ Thánh vị” Phật giáo. Như một pháp ngữ đã lưu ý rõ rằng cứ tầng bậc nào của con đường tu tập mà một Phật tử nghĩ rằng anh ta đã đạt được thì chắc chắn anh ta chẳng đạt được gì cả vì rằng một bậc Thánh không có ý nghĩa rằng: “Ta là kẻ độ… A La hán”, hay “ta đã đạt đến sự độ…” (nhân tiện đây là một thử nghiệm tốt nhất cho kẻ nào tự cho rằng mình là một bậc Thánh, có thể dễ dàng tự áp dụng, bằng cách hỏi rằng: “ Ta có nghĩ rằng ta là hay ta có sự chứng đạt này nọ không?” Nếu câu trả lời là xác nhận thì kẻ ấy thay vì đạt một trong những quả vị Siêu phàm, lại thực ra chỉ đạt cái thượng mạn mà thôi). Ý nghĩa của “có” và “là” quá mạnh mẽ trong hàng chúng sanh không chứng ngộ, hàng A La hán thì không hề như vậy, còn hàng Thánh thì có nhưng ít thôi, do đó mà sự nghịch lý, ở một vị A La hán thực sự khi vị ấy có thể nói mà không cảm nhận, rằng “ta là một A La hán…”)
Bây giờ chúng ta tiếp tục nói thêm về phẩm chất của một người đã chứng ngộ. Một bậc thầy chứng ngộ thật sự có thể không đúng như hình ảnh mà người ta nghĩ về vị ấy. thí dụ, như người ta nghĩ rằng một A La hán phải luôn luôn nhu hòa và chỉ
nói lời dịu ngọt, thế rồi nếu như nghe một người nào mà mình đã nghĩ rằng đấy là một A La hán nói lời hùng hổ thì người ta có thể đâm ra nghi ngờ và điên đảo. Vì lợi ích cho một đệ tử mà một vị thầy đã chứng ngộ có thể có cớ để nghiêm khắc dù rằng dĩ nhiên vị ấy không hề giận dữ. Cũng trong ý mạch này, Đức Phật nhắc nhở chúng ta: Chỉ khi nào mình sống lâu bên một kẻ khác và rồi chỉ khi nào mình có được sự lanh lợi thì bấy giờ mình mới có thể thực sự đánh giá tinh chất của người ấy được.
Bậc đạo sư đã một lần phân hạnh người ta theo một biểu thức bốn bậc, Ngài dạy: “ Có kẻ tu hành không vì lợi cho mình cũng không vì lợi cho người, có kẻ tu hành vì lợi cho người nhưng không vì lợi cho mình, có kẻ tu hành vì lợi cho mình nhưng không vì lợi cho người, sau cùng có kẻ tu hành vừa vì lợi cho mình vừa vì lợi cho người.” Trong biểu thức này, chúng ta thấy tất cả sự phân tích đời người vì kẻ xấu sống như là kẻ thù của chính mình và của mọi người, cho đến lý tưởng Phật giáo chân thật về trí tuệ thấy lợi ích của chính mình hợp nhất với lòng từ bi thấy lợi ích của những người khác.
Trước tiên là người tu hành không vì lợi riêng cho mình cũng không vì lợi cho kẻ khác. Như thế có nghĩa là bảo rằng anh ta chẳng hề tự thân cố gắng diệt Tham, Sân,Si của mình, cũng không khuyến
khích kẻ khác cố gắng như thế. Bằng lòng sống với các Căn bản Bất thiện, anh ta phải chịu đựng những hậu quả của sự thiếu nỗ lực của mình. Hơn nữa, những kẻ khác mà anh ta liên hệ cũng phải chịu đựng như thế. Một người quá vị kỷ thuộc loại ấy, sống mà chỉ chộp lấy những gì mà anh ta có thể chộp được trong cuộc đời, thực ra chẳng có gì ban ân cho ai cả. Trong khi anh ta chỉ lo cho chính anh ta thôi thì hạn người tiếp sau đó trong bốn hạng người nói trên lại đi tới các cực đoan khác là chỉ lo cho người khác mà thôi.
Ta cần phân biệt ở đây rằng có những người Thánh thiện, và rất hiếm hoi, có thể hành tác một cách vô vị kỷ tốt lành của kẻ khác ( nhưng cần chú ý là các vị ấy đã hoàn tất sự tốt lành của mình trước rồi), trong khi số đông người ta thuộc loại này là những kẻ rồ dại hoặc kiêu mạn. Tư tượng Phật giáo sau này nhấn mạnh rằng hạng người trước là lý tưởng Phật giáo thật sự (của Bồ tát) mà lại không luôn luôn nói cho rõ rằng để giúp đỡ kẻ khác vào Con Đường Chánh Pháp thì người ta trước hết là phải có cái gì đó để giúp đỡ. Hiển nhiên quan niệm như thế rất là cao quý, vị tha, v.v.,nhưng lại thường không được thực tiễn lắm, nhất là người ta khi mới đặt chân lên Con Đường đưa đến Chứng ngộ. Trong trường hợp của mẫu người thứ hai ở đây, vị ấy nên tự hỏi: “ Tại sao ta muốn giúp đỡ kẻ khác”. Phải
chăng là ngôi nhà riêng của vị ấy ở trong tình trạng tồi tệ đến nỗi phải thoát khỏi nhà mà cố gắng sắp xếp chỗ ở cho người khác? Trước tiên, sắp đặt nhà riêng của mình cho có thứ tự là nguyên tắc chủ yếu trong công hạnh Phật giáo. Người ta phung phí một đời người quý báu này đây bằng cách “ hành thiện” cho kẻ khác, điều ấy thường chính là sự can thiệp,dây dưa vào một sự phung phí thời gian thay vì nhìn vào chính tâm của mình. Trong thực tế, các bậc thầy trong các truyền thống Phật giáo phương Bắc cũng khuyến khích các môn đệ Bồ tát nổ lực vào việc chứng ngộ ở đây và bây giờ và sau đã thể chứng, họ mới có thể thực sự cứu độ hết thảy chúng sanh ( xem Nguyện và Nguyện Ba la mật). Lại nữa, trong thực tế, chỉ có những ai đã hoàn thành công hạnh của chính mình rồi mới có khả năng giúp đỡ được.
Hạng người thứ ba là hạng hoặc là không thề hoặc là không muốn giúp cho kẻ khác. Vị ấy không thể làm như thế hoặc vì không có khả năng truyền dạy (như các vị Độc Giác Phật hay một số vị A la hán) hoặc vì cị ấy đang còn bận bịu vì công hạnh của chính mình và do đó chưa sẵn sàng để nhận làm thầy kẻ khác. Mặt khác, nếu như sau này khi đã học tập và thể chứng nhiều và lại có khả năng truyền dạy mà một vị nào đó lại không muốn truyền đạt Pháp Báu của mình cho kẻ khác thì hẳn là có cái gì
đó sai lầm trong cuộc hành trì của vị ấy rồi vậy.
Mẫu người thứ tư là lý tưởng Phật giáo về chứng đạt như một vị Phật hay một vị A la hán. Đức Phật đã nói về Bậc A la hán rằng “ sống vì an lạc của số đông, vì hạnh phúc của số đông, do lòng từ bi đối với thề giới, vì điều thiện, an lạc và hạnh phúc của trời và người”. Đức Phật cũng được người ra biết với hình dung từ “ A La Hán” đã sống đúng theo cách này, cam khổ và từ bi suốt bốn mươi lăm năm. Lại nữa, trong một đoạn nỗi danh và thường được trích dẫn, Ngài khích lệ sáu mươi đệ tử đầu tiên của Ngài ( thảy đều là A la hán) bằng những lời lẽ xúc động như: “ Hãy đi đi, này các Tỳ kheo, hãy đi vì an lạc và hạnh phúc của số đông, do bởi lòng từ bi đối với thế giới, vì điều thiện, an lạc và hạnh phúc của trời và người. Này các Tỳ kheo, hãy tuyên bố Pháp vinh quang truyền dạy một đời sống Thánh thiện toàn hảo và thanh tịnh.” Điều ấy được chứng minh bằng cuộc sống của các Đại tỳ kheo môn đệ của Đức Phật, các vị đã thực sự sống theo cách này và sự lưu tâm của các vị đến kẻ khác rất lớn lao. Không thể có sự ích kỷ nào đối với kẻ đã nhìn sâu vào cái thường được gọi là “ ngã” – cái phước cấu tâm-thân, và đã nhận thấy rằng mọi ý niệm về ngã hay linh hồn điều hoàn toàn sai lạc. Chỉ có những ai không có cái biết thực tiễn và trực tiếp về cái không mới có thể ích kỷ vì họ tu hành trên những giả tưởng vị kỷ,
Sự phục vụ cao nhất mà người ta có thể dành cho chúng sanh là việc có thể chỉ cho các chúng sanh Con Đường vượt qua cái lo lắng và đảo điên của luân hồi sinh tử và điều này không thể thực hiện được nếu như người ta không tự mình thấy nó trước.
Nếu bốn mẫu người này được so sánh với hoa sen, một biểu tượng có ý nghĩa lớn lao đối với Phật tử, thì như tỉ dụ của Đức Phật đã nêu rõ, họ được minh họa như là bốn giai đoạn lớn lên của một búp sen. Theo đó, mẫu người thứ nhất được diễn tả bằng cái mần sen nhỏ, cứng xanh vươn ra khỏi đám rễ nằm sâu giữa những tầng nước bùn lầy đen tối. Trong tỉ dụ, mẫu người thứ hai giống như búp sen căng phồng khi hãy còn ở dưới nước nhưng đang tìm cách vươn lên mặt nước; còn mẫu người thứ ba thì được trỏ bằng một cái hoa sen đã vươn lên trong ánh sáng mặt trời sáng rỡ, khoe màu nhưng vẫn còn chưa nở. Mẫu người cuối cùng mà Đức Phật ca ngợi là “ chủ đạo và tối hảo, tối thắng, tối cao và siêu đẳng”, một vị Phật hay một vị A la hán được so sánh với cái đẹp tươi mát của một hoa sen nở rộ rực rỡ trong thuần khiết và có hương thơm tươi mát thanh cao.
Trước khi đi xa hơn, ta nên chú ý rằng tỉ dụ này không bao gồm mọi cả tính của Pháp. Chẳng hạn như không có tầng bậc nào trong đời sống của một hoa sen mà hoa sen lại không thể khô héo, chết đi vì một tai nạn nào đó. Thế mà trong sự tăng trưởng về
pháp thì lại có được tầng bậc như vậy mà còn gọi một cách khác là sự Đạt Dòng Pháp ( đạt lưu-trở nên một Thánh giả), hoặc ở chỗ khác, còn được gọi là Bất động Địa. Dòng Pháp ở đây có nghĩa là Dòng Pháp Siêu thế gian ( hay Tối Thắng Pháp) chảy đến Tối Thắng Thanh tịnh của Cứu cánh Niết bàn, trong khi mọi bậc Thánh giả là người đã thấy được Niết bàn, và do đã diệt được ba kiết sử thô phù là thân kiến (thấy có mình),nghi (nghi ngờ) và giới thủ kiến (tin vào hiệu năng của lễ và nguyện). Vị ấy là bất động vì vị ấy không bị xô đẩy trở lại lâu dài trong sanh tử, lâu nhất là bảy đời sống, đủ để vị ấy trở thành một A la hán.
Về việc so sánh một vị A la hán với một vị Phật thì như các kinh điển cổ xưa nhất đã nêu rõ, hai từ này vốn rất khó phân biệt với nhau. Đức Phật đã dạy: “ Như Lai, A la hán và Toàn giác Phật khai thị đạo mà trước kia chưa hề được khai thị, và là vị Giác ngộ đạo, liễu ngộ đạo, thiện xảo trong Đạo. Các đệ tử của vị ấy (hàng Thanh Văn) hành trì Đạo theo vị ấy. Này các Tỳ kheo, đấy là điều phân biệt Như Lai với một vị giải thoát bằng trí tuệ ( một A la hán bình thường)”. Nhưng chúng ta cũng phải nên ghi nhận rằng khi có người hỏi Tôn giả A-Nan, vị thị giả của Đức Phật (vừa mới nhập Niết bàn) rằng các Tỷ Kheo nào đó có được gọi tính chất của Đức Phật không, thì Tôn giả trả lời rằng không. Hình như
nhờ Bộ Kinh tập (Sutta Nipata) cổ, ta có thể thấy rằng trong truyền thống Phật giáo nguyên thủy, quả thật các từ “ Phật” và “ A la hán” hoàn toàn đồng nghĩa và bậc toàn hảo thì được gọi là “ Mâu ni” ( Muni). Từ Mâu-ni giờ đây là từ thông thường nhất để trỏ Đức Phật, Thích Ca Mâu Ni ( Sakya Muni) nghĩa là bậc giác trí của dòng Sakya Muni. Mâu ni có nghĩa là vị giác ngộ cho nên từ Giác Trí ( tiếng Anh là Sage) là từ tốt nhất được dùng để dịch.
Từ đó, ta có thể kết luận rằng mọi bàn luận về tính chất cao nhất của con đường này hay con đường nọ trong việc tu hành Đạo Phật hoặc về việc nên nỗ lực để thành Phật hay để thành A la hán đều là một sự tranh cãi về từ ngữ hay và do đó chỉ phí thì giờ và công sức mà thôi. Những quan điểm, bàn luận như thế không giúp cho ai đến được những cứu cánh ấy cả mà thực ra chỉ khơi dậy những ô nhiễm của tâm như sự Kiêu mạn (ta sắp là Phật) hay sân hận (Tại sao anh lại bảo rằng cứu cánh của tôi là thấp kém). Đức Phật đã ban cho một liều thuốc rất hiệu nghiệm để đối trị những sự đáng giá sai lầm như thế khi Ngài thuyết giảng về ba mối kiêu mạn, về sự cao hơn, kém thua hay bằng nhau. Và những lời dạy của Ngài về sự vô ích của việc tranh cãi, chia phe nhóm, thủ chấp các kiến giải chắc đủ mạnh để ngăn chận kẻ ganh tị quá đáng. Sự hòa ái và lòng từ bi đối với những kẻ có quan điểm khác mình là một dấu hiệu
của người Phật tử chân chính.
Người ta nên tiếp tục công việc của mình đang làm là việc tu tập về tâm linh và vất chất của riêng mình chỉ bằng cách này mới có thể trở nên một bậc Thắng trí, bậc Liễu trí, Liễu kiến Chánh Pháp trong tâm mình, được như thế rồi thì mọi vấn đề Phật hay A la hán sẽ tan biến đi một cách đơn giản và chắc chắn người ta sẽ nhận thấy những vấn đề như vậy thật là rồ dại (1).
Việc tu tập Phật giáo dẫn đến việc toàn hảo mọi sinh hoạt của con người: thân ngữ và ý. Trong khi còn là một kẻ học Đạo thì cần phải thực hành cái ý thức về thân từ lúc thức cho đến lúc ngủ. Khi sự thông tuệ về bản chất của thân đã phát khởi nhờ kết quả của hành trì ấy thì người ta không còn phải nỗ lực giữ gìn và ý thức về thân nữa, vì rằng ý thức của bậc Thắng trí thì hoàn toàn tự nhiên. Ta có thể
(1) Trước kia, trong Phật giáo một mặt có bàn đến sự Chứng ngộ “ ngay liền” ( đốn ngộ) và một mặt bàn đến sự Chứng ngộ “ dần dần” (tiêm ngộ). Nhiều lập luận về cả hai mặt có vẻ được xây dựng trên những quan điểm sai lầm và thực ra hình như chẳng có gì mâu thuẫn nhau. Sự chuẩn bị để Chứng ngộ có thể lâu dài và trong đó, quá trình chuẩn bị cần nhiều đời sống để thực hiện là “dần dần”. Mặt khác, kinh nghiệm Chứng ngộ tự nó ,dù xảy ra sau 500 đời sống chuyên tu, hoặc hai mươi năm nỗ lực thiền định, hoặc sau năm phút (và điều này hẳn là tùy thuộc chặt chẽ vào sự được chuẩn bị của căn tính cá nhân và cả vào vị thầy của cá nhân ấy) phải là “ ngay liền”. Sự nhảy vọt từ những trạng thái phàm tâm đến Siêu phàm, dù rằng bất cứ quá trình và phương pháp nào mà được như thế đều luôn luôn là “ ngay liển”, vì sự nhảy vọt luôn luôn là ngay liền.
bảo hai yếu tố kia là ngữ và ý cũng giống nhau như vậy. Ngôn ngữ của bậc Thắng trí thì phù hợp với Chánh Pháp một cách tự nhiên, trong khi ý của vị ấy thì, như các vị đã hoàn thành công hạnh từng cho chúng ta biết, không hề có chút tham dục bất thiện nào, mà lại tràn đầy những kết quả tu tập lợi ích và siêu việt như Thanh tịnh, Trí tuệ và Từ bi.
Nếu chúng ta có thể hệ thống hóa việc tu tập để Chứng ngộ thì chúng ta sẽ làm theo cách sau đây:
Ở phương Tây, đôi khi tâm con người được phân tích thành:
Ý: Ý chí hay quyết định để làm – có thể thiện xảo, không thiện xảo, hay vững chãi và ít hoặc nhiều bị giới hạn tùy theo tiền nghiệp.
TRÍ: Tư duy phán đoán và ứng dụng, ký ức, ý niệm, chứng giải, tưởng tượng, hy vọng và sợ hãi đã được ngôn ngữ hóa.
TÌNH: Cảm xúc, kích động, lo âu, sợ hãi, những thúc dục phi lý bắt nguồn từ những căn bản kín đáo, thâm sâu của tâm thức.
Mỗi khía cạnh của việc Tu tập Phật giáo tương ứng là:
Ý: Được tu tập bằng Giới. Bằng cách chuyên tâm, những quyết định được các Bước Tu tập hay Giới đều dẫn dắt rời khỏi bất thiện xảo và đưa đến
thiện xảo, như ở trong Mười điều chánh hạnh.
TRÍ: Được tu tập bằng Tuệ. Sự phát triển của trí nhờ Văn Tuệ và Tư Tuệ, đồng thời với sự thủ trì, giữ gìn cửa tâm để giảm thiểu cái bất thiện xảo và phát huy cái thiện xảo.
TÌNH: Được tu tập bằng Định. Sự tăng trưởng phạm vi tinh thần bằng cách thực hành các Phạm Trú, nhờ các thiền tư, làm cho các Phạm Trú trở thành vô giới hạn, chuyển những năng lực tình thức ra khỏi cái bất thiện xảo.
Mỗi khía cạnh của Chứng ngộ tương ứng là:
Ý: Được tu tập bằng Giới, có kết quả là Đại Thanh Tịnh. Cái Thanh tịnh đạo đức tự nhiên của Bậc Thắng trí hoạt động phù hợp với Chánh Pháp một khi vị ấy không thể nào cố tình phá bỏ Ngũ Giới chẳng hạn và truyền dạy những lợi lạc của mình cho kẻ khác.
TRÍ: Được tu tập bằng Tuệ, có kết quả là Đại Trí tuệ. Cái Trí tuệ Triển khai ( hậu Đắc trí) hoặc cái trí tuệ-thấy-sự vật-đúng-như-thật và truyền dạy theo thực tại, Tam Pháp ấn, Không và Niết bàn.
TÌNH: Được tu tập bằng Định, có kết quả là Đại Từ bi, Đại Từ bi cứu độ chúng sanh đau khổ và bằng cách truyền dạy Chánh Pháp cho chúng sinh tùy theo hiểu biết của họ, dùng các Phương tiện
Thiện xảo mà cứu với chúng sinh và đưa họ vào con Đường dẫn tới Niết bàn.
Theo cách này, không có một sự phát triển thiếu cân xứng hay thiên lệnh nào có thể xảy ra một khi người ta bắt đầu bằng sự tu tập con người toàn diện. Nếu muốn mãi là một người Thánh thiện thật sự thì người ta phải tu tập mọi khía cạnh của chính mình. Ngôn ngữ ở đây làm sáng tỏ việc tu tập Phật giáo và rằng từ “ toàn diện” và “ Thánh thiện” vốn có chung một căn nghĩa. Chẳng hạn, người ta không thể tiến xa nếu người ta chỉ tu sửa nguyện của mình một cách chặt chẽ bằng giới hạnh mà đồng thời lại dồn ép những khát vọng tình cảm bất thiện xảo của mình, ý nguyện như thế chỉ đưa đến quả là một cá nhân chua chát và vặn vẹo, có lẽ bề ngoài là một nấm mồ tô trắng. Người ta cũng không thể tiến xa hơn nếu người ta buông lung xao lãng và trao cương kỷ cho những suy động tình cảm của mình mà trong khi ấy lại thường “khích móc” những kẻ khác là một Phật tử mẫu mực. Sự việc này đưa đến kết quả là sự phát triển của hai khía cạnh đối nghịch nhau một cách mãnh liệt của một nhân cách mà thế nào rồi cũng có lúc rã lìa ra đưa đến một tình trạng hỗn loạn “ nhân cách bị phân hóa”. Người ta phải quyết định hoàn tất mọi khía cạnh tu tập nếu không thì hãy từ bỏ Đạo Phật đi cho rồi, vì rằng nếu tu hành bằng một đường lối lầm lạc hoặc vì những lý do sai trái
thì chỉ có thể đưa đến tai hại mà thôi.
Sự hòa điệu thành tựu xuyên qua việc áp dụng Chánh Pháp một cách thích đáng vào toàn thể cuộc đời mình, nêu rõ cái thất bại và cái bất xứng của sự phát triển thiên lệnh. Pháp ngữ sau đây về lòng Từ ái trỏ cho chúng ta sự hòa điệu ấy:
“ Như một người mẹ suốt đời mình,
Chăm sóc đứa con trai, đứa con độc nhất,
Người ấy giữ gìn không buông lung,
Tư duy của mình đối với mỗi chúng sinh,
Tư duy về tình yêu của mình đối với cả thế giới.
Người ấy vẫn giữ gìn không buông lung.
Bên trên, bên dưới và mọi phía xung quanh,
Không bị ngăn ngại, không ác hại, không thù nghịch…
Và kẻ nào liên hệ với định kiến
Là kẻ đức hạnh, thông tuệ,
Cho đến khi buông bỏ tham dục,
Kẻ ấy sẽ không còn đầu thai vào đâu nữa.”
(Đại Đức Nyanamoli Thera dịch.)
Một hình ảnh toàn hảo hơn về một người đã đạt đến chỗ tận cùng của việc tu tập mà người ta gọi là Mâu Ni, A La Hán hay Phật có thể được minh họa
từ một số câu kệ trong kinh Pháp cú, một kết tập của những lời dạy vàng ngọc của Đức Phật:
Vị ấy người ta không biết được hạn lượng,
Cả chư thiên cũng không biết được hạn
lượng,
Tự tại với mọi nhiễm ô và là vị A La Hán-
Vị ấy, ta gọi là một vị chân đạo nhân.
Thiện xảo trong Đạo là những gì không phải
Đạo,
Thâm sâu về trí tuệ,bậc Thiện trí,
Đã đạt sự đắt tối cao-
Vị ấy, ta gọi là một vị chơn đạo nhơn.
Không vướng mắt chi đến quá khứ.
Cũng không vướng mắc chi đến vị lai, hiện
tại,
Không vướng mắc vào đâu cả, không chấp trì
mảy may-
Vị ấy, ta gọi là một vị chơn đạo nhơn.
Từ bỏ mọi trói buộc của người,
Và vượt khỏi những trói buộc của trời,
Hoàn toàn tự do, thoát mọi trói buộc –
Vị ấy, ta gọi là một chơn đạo nhơn.
Từ bỏ những gì ưa thích và những gí không ưa
thích.
Mà trở nên hoàn toàn thanh lương, thắng lợi,
Không căn cớ để tái sinh,
Chinh phục hết mọi cõi –
Vị ấy, ta gọi là một vị chơn đạo nhơn.
Vị Thánh giả, vị Tối thắng, vị Anh hùng,
Vị đại trí, và vị chinh phục tất cả,
Vị bất động, vị thanh tịnh, vị chứng ngộ -
Vị ấy, ta gọi là một vị chơn đạo nhơn (1).
Xin kết thúc công việc trình bày thô thiển này về một số đặc trưng của Chánh Pháp mà bậc toàn chứng đã giảng dạy bằng một lời nguyện được tìm thấy trong một bản lịch sử cổ về bậc Đại Bổn Sư:
“Nguyện sao cho chúng ta, sau khi vượt độ, hãy dẫn dắt người khác vượt độ, chúng ta được tự tại, hãy cho người khác đươc tự tại; chúng ta được an lành, hãy cho người khác được an lành; chúng ta được giải thoát hãy cho người khác được giải thoát. Nguyện sao cho điều này thành tựu vì an lạc và hạnh phúc của chúng sanh, do lòng từ bi đối với thế giới, vì đại đa số chúng sinh và vì an lạc và hạnh phúc của trời và người”
(Mahavastu, q. III, tr. 134, theo bản dịch
của J.J.Jones)
________________________________
(1) Xem bảng kê các sách đọc thêm “ growing the Bodhi tree in the Garden of Heart”. (Phát Bồ đề tâm địa).