Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 20: Tam pháp ấn (Trang 123 - 126)

Tam pháp ấn (Ba dấu hiệu của hiện hữu)
Khi ba thể cách điên đảo đầu không còn dẫn người ta sai lạc nữa thì người ta đạt ba thứ tuệ quán liên hệ trong bản tính của toàn bộ thực tại; người ta thấy rằng các thành phần làm nên mình là Vô thường, rằng khi ta khát ái thì chỉ có Khổ đau (dukkha) và rằng không có bản chất nào tiềm ẩn trong ta - Giáo lý Vô bản chất hay Vô ngã.
Những tính chất này gọi là Tam Pháp Ấn và cần được khảo sát đầy đủ hơn vì những thiền quán được gọi là liễu kiến (thấy rõ), là nhằm để khám phá chúng. Tuy nhiên, ta không thể biết rõ chúng nếu trước hết ta không an tịnh được cái tâm loạn động. Nếu tất cả những tuệ quán này có hiệu năng đoạn trừ các ô nhiễm của tâm tham, sân, si .v.., thì chúng phải được chứng đắc trong sự tương tục của tâm và thân mỗi người. Chúng ta chỉ khảo sát ba Pháp Ấn này bằng lý trí mà thôi.
Về Pháp Ấn thứ nhất, dù chúng ta có thể thấy lá ở trên cây có chiếc non vừa hé, có chiếc đã già, trong khi những chiếc khác già úa và héo hon, vô thường- vẫn không đánh ngay vào tim ta. Dù qua năm tháng, tóc ta đã biến đổi từ đen sang xám, sang trắng, chúng ta vẫn không hiểu được điều mà sự biến đổi - vô
thường đang thuyết giảng một cách rõ ràng. Có một sự khác biệt rất  lớn giữa sự chấp nhận sự thật của Vô thường theo từng lúc trong ý thức hay chấp nhận ở đầu môi chóp lưỡi và việc thể ngộ thực sự cái sự thực Vô thường ấy trong tâm một cách liên tục. Phiền một nỗi là trong khi về mặt lý trí chúng ta có thể chấp nhận vô thường là sự thật có giá trị thì về mặt tình cảm, chúng ta lại không thừa nhận nó, nhất là khi có liên hệ đến "tôi" và "của tôi". Nhưng dù các cảm xúc vụng về của ta về tham, v.v. thừa nhận hay không thừa nhận, vô thường vẫn là một sự thật, và càng sớm nhờ tuệ quán mà thể hội được rằng vô thường là một sự thật thì chúng ta sẽ càng có hạnh phúc nhiều hơn, bởi vì thể cách suy nghĩ của chúng ta sẽ do đó gần thực tại hơn.
Về Pháp Ấn thứ hai, thật là dễ dàng khi nói:" Ồ vâng, hoàn cảnh khổ đau (dukkha) phát sinh do lòng khát ái." Nhưng chỉ nói thế mà thôi thì chưa đủ. Lòng khát ái ấy phải được thực sự nhổ ra khỏi các trạng thái tâm thức của mình, cũng bằng Tuệ quán, để khổ đau không còn ảnh hưởng đến ta. Đây chỉ co thể là một Chân lý khi nhờ Trí tuệ, ta thấy rằng nó là như thế. Cho nên lúc ấy, nó vẫn chỉ là một giáo lý, dù là giáo lý tốt, hướng dẫn đúng đắn ta lối sống ở đời.
Pháp Ấn sau cùng là khó hiểu nhất, hai Pháp
Ấn đầu có thể chập nhận về phương diện tâm thức sau vài dữ kiện từ kinh nghiệm của cảm giác đã được khảo sát, nhưng Pháp Ấn Vô ngã không thể được thể nhập một cách dễ dàng như thế. Thật ra, nó phải được thể hội sau một sự thiền quán lâu dài và sẽ được hiểu biết khi hai Pháp Ấn liên hệ kia được thể hội hoàn toàn. Đây cũng là Pháp Ấn gây rối rắm về mặt tình cảm nhiều nhất trong ba Pháp Ấn vì nó đi ngược lại với những ý niệm ngã thông thường, là những ý niệm mà nếu không suy nghĩ và nếu bị suy động bởi thể cách Điên Đảo Thứ ba (si tâm) thì người ta sẽ tưởng chúng là đúng. Nếu khảo sát một cái ghế, phần lớn người ta (trừ một ít triết gia chấp nhận các lý luận của người Hy Lạp) sẽ đồng ý rằng ta không thể tìm thấy nó bên ngoài các bộ phận của nó. Hãy gỡ nó ra thành từng phần, ta sẽ có chân ghế, lưng dựa, chỗ ngồi, nệm, v.v. nhưng "cái ghế" đã biến mất. Nếu chẻ nhỏ tất cả các bộ phận đó thì sẽ không tìm thấy "cái ghế" cũng như không tìm thấy "chân ghế", "lưng ghế"..mà chỉ còn thấy các mảnh gỗ vụn. Đi xa hơn nữa, chẳng còn thấy chỉ là ghế sau khi các mảnh gỗ vụn bị đốt cháy và chỉ còn lại tro tàn... và cứ tiếp tục mãi vì những quá trình như thế không có kết thúc. Khi khảo sát sự vật dưới ánh sáng này, người ta chỉ thấy các quá trình biến đổi mà không thấy các sự vật thật sự có bản chất bất biến. Điều này áp dụng rất tốt đối với cái ghê,
nhưng đối với nhiều người, nếu nó áp dụng đối với cái " Ngã" quý giá của họ thì nó không được chấp nhận tý nào cả. Hãy phân tích cái "Ngã" ra, người ta tìm thấy gì? Bằng một sự xếp loại, đức Phật đã liệt kê có Năm uẩn: Sắc uẩn (cái thân thể vật lý), thọ uẩn (lạc, khổ, không khổ, không lạc) tưởng uẩn (sự nhận biết sự vật qua các giác quan và ký ức), hành uẩn ( các hoạt động ý chí) và thức uẩn (nhờ vào nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân và ý thức). Vậy đâu là cái " Ngã" quý giá của con người? Cái ngã, từ sự giải thích này, được xem là do tập hợp những phần tố khác nhau, sai lầm lớn nhất của chúng ta là trong khi nó hiện hữu một cách tương đối thì chúng ta cho rằng nó hiện hữu như một "vật", như một toàn thể hoặc giả cho rằng có một bản chất tốt đẹp hay thực thế nào đó là cái " ngã" của tôi. Ngoài sự trình bày trên, sự phản đối sau cùng đối với vấn đề này là Tối thắng Tuệ không khám phá ra cái ngã. Để nhổ tận gốc các Điên đảo thì phải tiến hành bằng thân tâm của chính mình, chứ không phải chỉ áp dụng vào chiếc ghế, thì ở bất cứ cấp độ nào của phân tích, người ta đều thấy hết thảy mọi bộ phận mà ta xét đến đều vô ngã, ngay cả phần tử  bé nhỏ nhất hay những sự kiện mỏng manh nhất cũng đều được tuệ giác mạnh mẽ nhìn thấy là không chứa ngã, là vô ngã. Ở chương III chúng ta lại xét đến vô ngã và không.
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »