Chương Ba:
CÁC PHẬT TỬ THỂ CHỨNG GÌ?
Trước tiên do tôn kính Tuệ Giác của Đức Phật, người ta tin tưởng điều gì thì cuối củng do kết quả của hành trì, điều ấy được nhận là chân lý trong tự thân mỗi người và sẽ trở thành bậc " Giác Ngộ", vượt khỏi sự tín ngưỡng suông. Vậy bây giờ chúng ta sẽ đề cập đến:
TỐI THẮNG TUỆ ( Thánh Tuệ)
Còn phải thanh tịnh cả tâm mình nữa.
Phàm nhân và thánh nhân:
" Chứng ngộ" nghĩa là thấu thị bản chất của thực tại, điều mà phần đông người ta không có được. Đó là một sự trông thấy mục đích ấy thì được gọi là hàng " Nhập Lưu" ( những kẻ vào trong dòng pháp chảy đến Niết bàn), các vị ấy có những chuyển biến cơ bản trong lề lối suy tư và hành động. Phàm nhân vốn dĩ không có được Thông Tuệ như vậy. Một kẻ bình thường không được học tập thì ngây ngô tin tưởng rằng thế giới là đúng như nó xuất hiện. Anh ta cứ
vật vờ theo suốt cả cuộc đời, vẫn luôn luôn chao đảo vì mộng ước và tham vọng là những thứ thường được tô quét bằng tham, sân, si. Trong dòng tham lam vô định ấy, anh ta chẳng có một ý tưởng nhất định nào dù anh ta bị trói buộc chặt chẽ bằng thức tỉnh, chuyển dời, lao tác, buông nghỉ và ngủ nghê. Hiếm khi anh ta nghĩ rằng cuộc đời có thể được sử dụng tốt hơn hoặc có thể có những đối tượng cao hơn thế này hay không. Tôn giáo của anh ta thỏa mãn cho anh ta nhiều khát vọng: Nó phù hợp với quy ước, nó là truyền thống của gia đình anh, đôi khi nó kêu gọi anh đến nhà thờ, .v.v. mà chẳng "chỏ mũi" vào những công việc khác của anh, nó hoàn thành những lễ lạc cần cho nó và đôi khi nó ban cho anh một chiếc gậy nhỏ để an ủi anh. Đấy là tất cả những gì khiến Tôn giáo được xem là cần thiết. Trái với hình ảnh u ám kia. một bậc thánh nhân có được Tuệ Giác nói trên là một bậc thánh thật sự. Vị ấy không phải là một nhà tu chua cay, vì lòng sân hận sinh ra chua cay vốn đã bị làm cho yếu đi tùy theo sức mạnh của Tuệ Giác. Đối với tham dục và si muội cũng như thế. Hàng thánh nhân quả thực an định hơn hàng thường nhân chao đảo và trong trường hợp Giác ngộ Tối thượng (sau đó các vị ấy được gọi là A La Hán), các vị đã miễn trừ được cả những dấu vết nhỏ nhặt nhất của Ba Căn bản Bất thiện và từ đó miễn trừ hết cả mọi căn bệnh tinh thần do Ba Căn bản Bất thiện ấy
gây nên. Đức Phật cũng còn được gọi là một A la hán. " bậc ứng cúng" vì thuyết giảng của ngài hoàn toàn phù hợp với các hành động của ngài và đằng sau thuyết giảng và hành động là sự giác ngộ, rạng ngời Trí tuệ và Nhu hòa Từ bi. Trở nên một vị xứng đáng thật sự, do đó là trở nên như Đức Phật và các đại đệ tử để chứng ngộ của Ngài. Hàng A la hán vượt khỏi vướng mắc của vị kỷ, hy sinh đời mình cho kẻ khác được tốt lành, từ đó các vị an nhiên tự tại, không bị các Căn bản Bất thiện ràng buộc và do đó được hạnh phúc thật sự. Những kẻ khác cũng có thể đạt được như vậy. Các vị không thọ nhận một sầu khổ tinh thần nào và cả đau đớn về thể xác cũng được quan niệm khác đi, vì hàng A la hán không bị ràng buộc vào bất cứ vào một loại thể xác nào. Đời sống của các vị không bị quy hướng hẹp hòi vào những mục đích cá nhân hay những kế hoạch gia đình mà luôn luôn nối kết với hạnh phúc của mọi người. Hàng A la hán không chỉ phải có Thánh theo từng lúc vì thể nghiệm siêu phàm của các vị về Niết bàn đã nhiễm đầy mọi tư duy, ngôn ngữ và hành động của các vị một cách một cách cao thượng: tự duy của các vị không bao giờ ô nhiễm bất thiện mà luôn luôn nhắm thẳng đến những mục đích thiện xảo hay siêu phàm, ngôn từ của các vị thì ngọt ngào êm ái, ban bố trí tuệ và khai thị Đạo thể, hành động của các vị thì không cường bạo hoặc không gây hại, thật