Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 38: Thiền định là liều thuốc chữa bệnh (Trang 183 - 190)

khác, liên hệ với việc dùng một đối tượng rõ ràng để tập trung tư tưởng. Đối tượng có thể là cơ thể của mình, hay một phần của cơ thể, một màu sắc hay một bức ảnh, một từ hay một câu, một hình ảnh trừu tượng, v.v.  Tất cả những phương pháo này đòi hỏi một số kỷ luật nhẹ nhàng của tâm thức. Mỗi khi tâm chạy lạc, cần phải khéo đeo tâm trở về (dĩ nhiên bằng sự tỉnh giác) tập trung lại vào đối tượng đã chọn.
Tất cả các đề tài liệt kê dưới đây là thuộc loại thiền định thứ hai trong đó sự yên tĩnh có được từ sự tu tập được dùng để khởi lên tí tuệ. Vì lý do này, các đề tài ấy được gọi là chỉ - đưa - đến - tuệ (Tuệ quán) và rất cần thiết trong thời đại mà tâm bị phân tán như hiện nay.

Thiền định là liều thuốc chữa bệnh
Theo truyền thống của Phật giáo, Thiền định giống như một phương thuốc: giống như cơ thể có vài chứng bệnh đòi hỏi nhiều liều thuốc chữa bệnh khác nhau, cũng thế, các trạng thái tâm thức bất thiện khác nhau đòi hỏi cách trị liệu khác nhau bằng thiền định. Người ta khó xác quyết được rằng mình đau khổ vì chứng bệnh nào, hay mình thuộc căn tánh nào, đây là một lý do vì sao chỉ nên hành thiền với sự giúp đỡ của một vị đạo sư, người có khả năng

 
quyết đoán căn tánh và cho thuốc thích hợp với căn tánh ấy. Lại nữa, căn tánh không phải là một "hiện hữu" cứng nhắc mà là một chuỗi quá trình luôn biến đổi. Các phương pháp như thế có thể chỉ dẫn cho sự thay đổi căn tính và đôi khi các phương pháp cũng cần thay đổi vì trạng thái tâm thức của người cần sự thay đổi đó. Vị đạo sư lại rất cần thiết để hướng dẫn. Sau cùng, phần đông con người không có gốc từ chỉ một căn tánh mà là một sự hỗn hợp của các căn tánh, các căn tánh khác nhau chiếm ưu thế ở những lúc khác nhau. Dưới đây chúng ta đưa ra một trong những bảng phân loại các căn tính nổi tiếng nhất và xưa nhất được đại sư Phật Âm (Buddhagosa) đã thiết lập từ khoảng 1.500 trước. Bảng phân loại này không nhầm bao gồm tất cả các căn tánh mà chỉ đặc biệt dành cho những mục tiêu thiền quán:
Tìm Hiểu Đạo Phật
Với sự tu tập, những người thuộc căn tánh có gốc rễ từ Tham, không còn quy tụ tham ái vào họ rồi đổ dồn nhiệt tâm vào lý tưởng của họ. Bấy giờ, những người ấy trở thành những người thuộc căn tánh có gốc là lòng Tin nhưng họ còn cần có sự học tập và trí tuệ để quân bình sự trưởng thành tâm thức của họ. Để đổi hướng các năng lực của tham sang các kênh bậc lành thiện hơn, 32 mẫu mảnh bất tịnh của thân được đưa vào tâm thức một cách có hệ thống và được quán tưởng cho đến khi chúng thực sự được thấy bằng cái thấy của thiền quán. Sau khi thiền quán như thế người ta buông xả lòng tham ái, cái mà thực sự chỉ là một khối máu, da và xương .v.v. và chấm dứt việc đồng hóa mình với cơ thể này. Người ta cũng được lợi ích khi cắt bỏ sự ràng buộc vào thức ăn bằng cách xen thức ăn không phài là ngon, thơm, hợp ý mình, v.v. mà đạt đến cái cảm nhận đơn thuần của giác quan lại về thức ăn trước khi các quá trình tâm thức của người ta tô màu tham ái lên toàn bộ sự việc (1). Như vậy, các pháp
 

(1) Không nên vì những thực hành này hoặc những thực hành khác trong Phật giáo với những sự hành xác, với việc mặt áo dệt bằng tóc hay sự tự hành khổ mà những người ngoại đạo khuyến khích hay thực hành. Trong các tôn giáo ấy, thân thể là một cái gì khác với tâm thức và ở trong tay những tín đồ quá khích thì thân thể có chiều hướng trở thành một chỗ thuận tiện cho mọi rắc rối hành tác, thực ra nguồn gốc của mọi rắc rối chính là tâm, thế nhưng người ta lại không nhận ra như thế và thế là cái " Anh Lừa", phải chịu bao nhiêu là khổ nhọc do chính cái quan niệm " hành hạ thân xác" rất sai lầm ấy.
thiền quán này là phương diện thích đáng để tháo gỡ sự Tham ái ra khỏi các đối tượng của nó và do đó có thề mở rộng phạm vi của tâm đến các đối tượng thuộc tâm thức.
Người thuộc căn tính nặng tín ( lòng tin), trong bảng trên có một pháp thiền quán và một khi được triển khai tốt sẽ khiến người ấy đạt Trí tuệ đáng kể làm cho quân bình cho căn tính người ấy. Ở đây, chúng ta không giải thích ý nghĩa thực sự các Phẩm chất của Phật Pháp một cách chi tiết, dù có đưa ra một bảng liệt kê ngắn gọn: Savàkkhato, Bhagavatà dhammo (pháp được khóe thuyết giảng bởi Thế Tôn) sadithiko (có những kết quả thấy được trong hiện tại) akaliko (một giáo lý chân thật vượt thời gian), ehipassiko (giáo  lý để đến mà thấy cho tự mình), opànayiko ( dẫn đến nội chứng từ quả vị cao thượng này đến quả vị cao thượng khác), paccattam veddhitabbo vinnuhiti (được chứng ngộ bởi các hiền giả, mỗi người tự chứng ngộ mình). Đây là phẩm chất sâu xa của Giáo Lý mà Đức Phật đã tuyên thuyết.

 

Trong tu tập Phật giáo và đối với những quan sát thực tiễn, Tâm và thân đôi khi được bàn riêng ra, nhưng vẫn nhận biết rằng chúng là một phức thể là hỗ tương tác động vào nhau. Trong Phật giáo, người ta thường xét trực tiếp đến tâm hơn là dùng những đo lường thuộc thân mà kiểm soát tâm (thân cũng được xét tới trong một số hình thức Du già Phật giáo). Các quá trình tâm thức, nhất là những quá trình sâu kín cần phảo được kiểm soát và biến đổi.
Người thuộc loại căn tánh bị chế ngự bởi Sân, dù thuộc căn tính khó khăn, cũng phải phát triển đức tính Hòa ái. Sự phát triển đức tính này sẽ được trợ giúp nếu người ấy đối đãi với các đối tượng một cách cẩn thận và chuyên chú, sống ở một nơi mà người ta không khơi dậy sự sân hận và như thế dần dần người ấy sẽ học được sự kiên nhẫn và từ hòa. Một người thuộc sân tánh thì nhạy bén khi nhìn thấy các điều không ưa, không thích. Nhưng với tu tập, vị ấy có thể thay đổi các đặc tính không lành mạnh này sang sự nhạy bén trong việc nhìn thấy các ý nghĩa trong Phật Pháp. Bấy giờ người ấy chuyển thành một người có căn tánh linh lợi. Một người có căn tính linh lợi có xu hướng thiện tài ở mặt trí tuệ nhưng hơi khô khan về mặt tình cảm. Người ấy cần loại thiền quán đặc biệt đánh thức dậy tình cảm quân bình của lòng tin. Thiền quán về những đức hạnh của Đức Phật sẽ tạo được điều ấy.
Itipi so Bhagava (đấy thực Như Lai), Araham (Ứng Cúng), Sammasamboddho (Chánh biến tri), Vijjacarana sampano (Minh hạnh túc), Sugato (Thiện thệ), Lokavidu (Thế gian giải), Anuttaro (Vô thượng sĩ), Puridomma saràthi (Điều Ngự Trượng Phu), Satthà-devamanussànàm (Thiên Nhơn sư), Bhuddho (Phật), Bhagaváti (Thế Tôn).
Trú trong pháp quán này, người ta sẽ hiểu rằng
trong con người của Đức Phật, không có con người khổ hạnh, hiền thiện già nua mà một số nhà văn miêu tả, không phải là Gotama, một con người không phải là một người duy lý, cũng không phải là một xuất thân của vị Thiên chủ, mà người ta có trước mình đức Gotama bậc Toàn giác đã chứng đắc Niết bàn, một trạng thái ở ngoài mọi sự phân biệt (xem phần III). Một ý nghĩa lớn về sự tôn kính được đánh thức do việc thực hành thiền quán này, sự tôn kính đi vào nhiệt tâm vì người ta không chỉ đạt đến sự tin tưởng mà còn đến sự lĩnh hội và từ lĩnh hội, lòng khiêm tốn phát sinh. Yếu tố khiêm tốn là điều quan trọng nhất đối với người có căn tánh thông minh, người dễ tưởng tượng ra mình hiểu Đạo Phật. Một người như thế, chẳng khác chi anh ta lầm tưởng một giọt nước cam là toàn thể những gì chứa trong trái cam mà anh ta chưa khởi sự bóc vỏ. Thái độ lầm lẫn cho rằng mình biết tất cả về Đạo Phật sẽ dễ dàng được xóa bỏ bởi việc xem xét đời sống riêng của mình-nó đã hoàn toàn chưa? Tâm mình được tập trung ra làm sao? Thiền định của mình đã được tĩnh lặng tới mức nào? sự hiểu biết chân thật về Phật Pháp không phải có được do đọc kinh sách, do nghe diễn giảng hay nghỉ ngơi xuông mà chỉ được đạt đến sau một sự tu tập đáng kể và kiên trì.
Người mang căn Si mạnh thì khổ sở vì không có khả năng hiểu biết, vì độn lụt, vì có nhiều trở ngại
trong các vận hành của tâm thức, khiến cho những bánh xe quay chậm quá. Loại thiền quán cần đến là loại thiền quán đánh thức trí tuệ, và để được như vậy, những ứng dụng đơn giản của Duyên khởi sẽ tỏ ra là rất hữu ích. Công thức đơn giản nhất của Duyên khởi đã nói trước đây là: "Cái này có, cái kia có; cái này sinh, cái kia sinh; cái này không có, cái kia không có; cái này diệt, cái kia diệt". Đây là nền tảng của tư tưởng Phật giáo, đây là tuệ quán đại căn bản của Đức Phật: Rằng một sự vật chỉ sinh khởi tùy thuộc vào nhiều điều kiện (duyên); nếu các điều kiện ầy không có mặt thì sự vật ấy không thể sinh khởi. Hãy quan sát bất cứ vật nào.Một cái cây, một đám mây, một con kiến, và sau cùng là thân và tâm của con người. Tất cả những "sự vật" này (thực ra là những sự kiện) sinh khởi một cách tùy thuộc, tồn tại một cách nhân duyên, suy tàn một cách tùy thuộc, mất đi một cách tùy thuộc. Những gì nói về thế giới, những ấn tượng giác quan bên ngoài cũng đúng như về chức năng của tâm. Các trạng thái tâm thức và các quá trình tâm thức sinh khởi do một số điều kiện (nhân duyên) và diệt đi vì các điều kiện ấy diệt đi. Chúng ta lại nhìn thấy các quá trình lúc đang hoạt động và qua thiền quán về chúng, trí tuệ phát sinh, do đó xua tan u ám của ngu muội.
Sau cùng, người có căn tánh phóng động ( tầm căn) tương tư như si tánh vì si tánh và sự phóng động
hoặc cái " Tâm hời hợi" không có khả năng thể nhập một đề tài. Tuy nhiên, ở trường hợp người có si tánh thì sự ngu muội ngăn cản sự hiểu biết, trong khi trường hợp người có căn tánh phóng động, tâm thường sáng, có chú tâm vào các đề tài từng lúc rồi bỏ rơi chúng chứ không bền bỉ tập trung. Người như vậy có một sự tích lũy rộng rãi các sự kiện nên không thể nối kết các sự kiện lại với nhau nên không có chiều sâu của sự hiểu biết. Tập hợp của sự thông minh và tính bất ổn định đòi hỏi sự tu tập làm giảm dần các hoạt động hời hợi của tâm và đem lại sự tậm trung sâu đậm. Phép thiền quán như thế là pháp Chánh niệm vào Hơi thở (1) rất nổi tiếng, trong đó các hơi thở vào và hơi thở ra được theo dõi với sự tỉnh giác, thường được tập trung vào đầu sống mũi, mặc dầu các thiền sư có nhưng phong cách riêng của họ. Phương pháp này đem lại sự an tịnh và vì thế đem lại sự hiểu biết lớn hơn trong sự thức tỉnh của nó, đem lại nhiều lợi lạc cho con người có căn tánh phóng động.

(1) không nên lầm lẫn Chánh niệm vào Hơi thở với các thực hành cưỡng ép hơi thể của pháp môn Yoga. Không bao giờ nên thực hành Yoga mà không có một vị thầy chuyên môn hướng dẫn, và trong khi người viết vẫn thường xuyên khuyên mọi người chớ thực hành thiền định mà không có người hướng dẫn, thì Chánh niệm vào Hơi thở sẽ không đưa đến những kết quả tai hại nào, miễng rằng người thực hành đừng cố thúc bước ra nhanh. Thiền định về Từ ái cũng có thể được mọi người thực hành tốt đẹp (mà không cần người hướng dẫn).
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »