chú ý rằng sự tu tập của Phật giáo không áp đặt lên các tín đồ một sự kiểm tra tri thức nào, vì chính sự tri thức khi được tinh luyện sẽ chuyển thành Thắng Tuệ. Các Phật tử có thể và quả thực đang được khích lệ đặt ra những câu hỏi họ muốn. Họ có thể khác nhau trong nhiều mặt tri thức, sở dĩ như thế là vì nhiều trường phái tư tưởng Phật giáo đang có mặt đặt những trọng điểm khác nhau trên những khía cạnh khác nhau của Phật pháp. Tuy nhiên mục đích trong trường hợp đều được nhận rõ là giống nhau, đó là sự Giác ngộ. Phàm tuệ của Phật tử, dù người ấy theo học phái nào, trước hết là hiểu rõ sự cần thiết phải làm cho đời mình và do đó phải thực hành những gì Đức Phật dạy.
Xả ly và Xả ly Ba la mật
Sự tu tập liên hệ đến xả ly ( sự từ bỏ) là một trong những tu tập hữu ích dẫn đến mục đích Niết bàn. Quả thực, người ta hoặc theo lối sống xuất gia của cư Tăng Ni hoặc đời sống cư sĩ, hạnh xả ly luôn luôn làm thành một nền tảng trên đó ngôi đền thánh Chánh pháp được xây dựng trong tâm mình. Người ta không bao giờ nên sợ hãi xả ly vì người trí tìm thấy trong đó điều thiện lớn nhất. Chỉ có một con người của các chân trời co rúm, thiên trọng vật chất, sống trong rừng âu lo, phiền muộn mới sợ sự xả ly và nỗi sợ hãi của người ấy còn hư ảo hơn cả
những công việc mà người ấy chăm lo. Người ta càng có khả năng trừ bỏ thì càng có khả năng tu tập, và ít tu tập có nghĩa là chậm chứng ngộ. Khả năng từ bỏ càng nhiều thì sự tu tập và hiểu biết của con người càng sâu sắc hơn và do đó, sự chứng ngộ sẽ càng triệt để và nhanh chóng hơn. Người ta bảo rằng Phương Đông có thể xả bỏ sự vật một cách dễ dàng hơn (người phương Tây) vì họ có ít hơn. Nhưng khả năng xả bỏ không phụ thuộc vào địa dư hay các sự vật mà phục thuộc vào tâm. Đức Phật đã chỉ rõ rằng một người có thể sống trong một cái chòi đất, sống đời khốn khổ, có một người vợ xấu xí và không có tiền nuôi sống, dù người ấy thấy các vị tu sĩ, cả đến các Bậc A la hán, tâm người ấy cũng không rung động mong trở thành như chư vị ấy mà vẫn bám chặt sự khốn khổ của mình. Một người khác là con của một gia đình giàu có, nhiều tiền và có thể có mọi thứ mong muốn, có những người đẹp bao quanh, dầu vậy, khi thấy chư vị xả ly tất cả kia, người ấy hứng khởi sống theo gương họ và trở thành một vị trong những vị ấy. Những người có được một nền văn hóa Phật giáo sẽ quen thuộc với ít nhất là vài mẫu chuyện trong số rất nhiều chuyện về xả ly trong các kinh sách Phật giáo liên hệ đến những đời sống quá khứ của Đức Bồ tát, vị đã thành Đức Phật Gotama. Đời sống sau cùng của Ngài cũng là một đề tài về xả ly rất hứng khởi.
Xả ly là đi theo Con Đường của Pháp. Pháp ở đây có nghĩa là " con đường sự vật đúng như chính chúng", " như tính của sự vật" hay thi vị hơn " như thị" khiến cho tâm hay thân và dĩ nhiên tất cả các thứ tập hợp về tâm, thân (danh sắc) đều không thể được xem là sở hữu của một người. Đức Phật thường khuyên: " Các người từ bỏ những gì không phải của các người không? Và những gì không phải của các người? Danh không phải của các người, sắc không phải của các người". Phải chăng đó là lời dạy khó thực hành? Đúng vậy, nhưng đấy là một lời dạy mà người ta có thể sử dụng một cách tốt đẹp trong đời sống hàng ngày. Nó tạo nên một sự sai biệt đáng ngạc nhiên nếu trong khi đau ốm, tai nạn hay bối rối người ta nhớ rằng - " tâm là không phải của tôi, thân không phải của tôi". Đấy cũng giống như đặt thuốc dán làm nhẹ cơn đau trên vết thương chưa lành. tâm và thân trở nên mát dịu và phát khởi sự tách ly, thanh thản, cho ta một nhận thức đúng đắn và sáng suốt về bất cứ trạng huống nào. Khi sự xả ly này tác động chỉ trong một trời gian ngắn thì sẽ loại bỏ được "cái tôi" của âu lo và giả tạo. Sự xả ly như vậy không phải là loại ép buộc của sự quả quyết đầu năm mà người ta tuyên bố một cách mạnh mẽ (vào ngày đầu tiên với mọi giá) rằng " tôi sẽ từ bỏ thuốc lá, rượu bia..." hay tuyên bố thế nào chăng nữa. Điều này là phi thực tế và hiếm khi có hiệu năng
lâu dài. Xả ly biểu hiện trong đời sống thực của Phật tử bởi vì người ta sẽ được hạnh phúc khi từ bỏ sự đòi hỏi sở hữu những gì không thực sự thuộc về mình.
Hạnh Xả ly Ba la mật được soi sáng trong câu chuyện đại vương Maghadeva, người đã từ bỏ ngai vàng từ lúc Ngài còn sống nhiều năm nữa, để lấy đời sống của một người ẩn dật và tu tập thiền định. Nhưng dân chúng của nhà vua quá xúc động trước đức tính cao thượng của vị vua đến nỗi rất nhiều người bỏ nhà theo vua đi vào rừng và thay vì sống từng am riêng, họ sống thành một làng gồm các ẩn giả, tất cả tu tập thiền định dưới sự hướng dẫn của nhà vua, rồi chứng đắc quả vị Phạm Trú và tái sinh vào cõi trời Sắc giới hay Brahmaloka. dĩ nhiên, vị vua ấy trong dòng tương tục tái sinh là tiền thân của Thái tử Siddhattha (Tất Đạt Đa). Ngay cả khi là một Bồ tát phát nguyện chứng đắc giác ngộ, Ngài đã quyết định không chỉ vì lợi ích của riêng Ngài mà còn dẫn dắt những người khác đi đến hạnh phúc.
Dĩ nhiên, xà ly có thể kèm với sự xà ly đời sống gia đình, là trường hợp quá rõ ràng của đức Gotama, xả ly mọi ràng buộc, hoặc có thể không kèm với đời sống xả ly gia đình. Xả ly Ba la mật không chỉ có nghĩa là sống đời không nhà, mặc dù tình trạng không nhà thường là điều kiện thuận tiện hơn cho việc tu tập Phật giáo. Ba la mật có nghĩa là sự thực hiện triệt để của xả ly nội tâm, tìm thấy sự xả ly nội