Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 40: Các Phạm trú (Bốn vô lượng tâm), các Ba la mật và các Đức tính khác liên hệ với thiền định (Trang 207 - 212)

Tham, Sân, Si còn bám chặt trên tâm của con người. Như thế là không thực tiễn ư? Đúng thế, nhưng chỉ đúng với những ai không thực hành. Những ai chịu nhận việc tu tập chánh niệm sẽ tìm thấy cho chính mình rằng chánh niệm giúp cho đường hướng giải quyết các vấn đề của đời sống như thế nào.
Mặc dù ngày nay các cuộc hành trình đi đến những nơi xa xăm và hấp dẫn được thực hiện một cách dễ dàng, con Đường đi đến Niết bàn vẫn còn cần nổ lực. Nhưng nếu con đường đi đôi khi buồn tẻ thì chánh niệm là ánh sáng hướng dẫn tốt nhất, ít ra cũng từ suy tư, người ta biết rằng Mục đích ấy rất là vinh quang và rất là giá trị; không những chỉ riêng chúng ta mà còn cho những người khác nữa.

Các Phạm trú (Bốn vô lượng tâm), các Ba la mật và các Đức tính khác liên hệ với thiền định.
Thế là Con Đường đó đưa chúng ta ngang qua những gì gọi là Phạm Trú (Bốn vô lương tâm). Phạm trú luyện các tình cảm thâm sâu từ bất thiện đến Con Đường Phật Pháp thiện lành. Như đã nhấn mạnh trên đây, mục đích của chúng ta cũng như tất cả các chúng sinh khác là làm sao đạt được các điều kiện tạo ra hạnh phúc. Vì vậy, ta phải hành động làm sao cho hạnh phúc sẽ là kết quả của những hành động của chúng ta. Muốn thế thì chúng ta phải
đối sử với những người khác như chính họ mong muốn được đối xử, vì mọi chúng sinh đều thương yêu chính mình và mong muốn chính mình được hạnh phúc an lạc. Ta không thể chờ đợi có một hạnh phúc riêng rẽ khởi lên mà không do nguyên nhân nào mà không do tự nó, ta cũng không thể chờ đợi được hạnh phúc nếu chúng ta bạc đãi các chúng sinh khác, là người hay không phải là người. Mọi chúng sanh đều ham sống và sợ chết, điều này là thật đối với chúng ta và đối với sinh vật khác.
Chỉ có một người hằng sống một đời sống chân chính và từ bi mới thật sự yêu thương mình, vì người ấy làm những việc thuộc lợi ích lớn, hạnh phúc lớn. Còn những người khác, dù họ nghĩ rằng họ thương yêu chính họ, thực sự họ là kẻ thù xấu nhất của chính họ, vì họ đang làm cho chính họ những gì mà chỉ có kẻ thù mới mong muốn cho họ như thế.
Thế thì đức hạnh tùy thuộc vào một cái tâm được khéo tu tập, cái tâm dần dần đã được giải thoát  ra khỏi những nanh vuốt của Tham, Sân và Si. Thương yêu người láng giềng như thương yêu mình là điều dễ nói nhưng khó làm. Giá trị đặc biệt của những lời dạy của Đức Phật là các lời dạy này luôn luôn chỉ rõ làm sao để chuyển một phương pháp ấy ở đây là sự tu tập tâm thức theo các Phạm Trú. Khi ta nói "tâm thức"
thì không nên hiểu từ này theo nghĩa hẹp là những quá trình tri thức mà bao gồm hết thảy phạm vi tâm - và - ý, tri thức và tình cảm. Có bốn phạm trú (còn gọi là bốn vô lượng tâm): Từ, Bi, Hỷ, Xả.
Bốn Phạm Trú này, đặc biệt là Từ, là phương pháp hành thiền rất phổ biến ở các xứ Phật giáo. Sau đây là sự giải thích ngắn về mọi Phạm Trú:
Từ là lòng thương yêu vô vị kỷ trang trải cho mọi người. Việc này trở nên dễ dàng một khi ta đạt được thiền tư, khi ấy đức tánh từ trở nên toàn bộ tính tình của chúng ta. Thói thường người ta chỉ "yêu" một số ít người có ràng buộc đặc biệt bởi các liên hệ gia đình, v.v. Đấy là tình yêu bị ràng buộc cảm quan (dục ái), một tình yêu hạn hẹp và những kẻ ở ngoài tình thương ấy thì người ta hoặc là không biết tới (dửng dưng mà nhìn họ: Si) hoặc không thích (nhìn họ như kẻ thù: Sân), tình yêu thuộc cảm quan không chỉ liên hệ với tham ái mà còn liên hệ với Sân và Si, nên người vui thích với tình yêu như thế sẽ trả giá đắc cho nó. Một tình thương yêu không bị ràng buộc hiếm khi được nhiều người quan niệm tình yêu như thế vượt hẳn tình yêu cảm quan vì không bị ràng buộc, nó trở thành vô lượng và không bị giới hạn trong nhóm người này nhóm người nọ vì nó được biến thành vô lượng nên nó không thể bỏ sót bất cứ gì bên ngoài nó, cho nên không thể có sự việc
Ba căn bản Bất thiện (Tham, Sân, Si) nối kết với nó (1).
Lòng từ có thể phát triển dần dần trong thời hành thiền hằng ngày của chúng ta nhưng nếu nó thực sự hiệu quả thì nó phải biểu lộ trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Từ làm cho đời sống dễ chịu hơn do chuyển đổi được những người mà ngày trước mà chúng ta không ưa thích hay ghét giận, mới đầu thành những người chúng ta không quan tâm, rồi sau đó việc tu hành trở nên mạnh mẽ hơn, ta chuyển đổi họ thành những đối tượng để phát khởi lòng Từ. Từ chính là liều thuốc của Đức Phật để trị bệnh hận và ghét. Sau cùng, chúng ta được biết rằng từ có hai kẻ thù: kẻ thù "gần" là dục ái mà thường gọi nhầm là " tình yêu" và kẻ thù "xa" đối với sự phát triển lòng tư bi là sân. Chúng ta phải coi

(1) Ở vài nơi có quan niệm kỳ lạ cho rằng Phật giáo là một " hệ thống duy lý lạnh lùng". Xin bàn về quan niệm ấy : "lạnh lùng nghĩa là phi tình cảm, thái độ mà một Phật tử chân chính đang tu tập lòng Từ không bao giờ có. " Duy lý" ở đây hình thức ngụ ý bảo rằng Phật giáo có thể hiểu hết bằng những năng lực tầm thường của lý trí trong khi chúng ta đang khổ công vạch ra rằng sự hiểu biết thực sự chỉ có thể có được bằng Tuệ quán và như là một căn bản cho Tuệ giác, khi các phạm vi lớn lao của tâm mở rộng ra thì "lý trí" tuyệt nhiên không thể hiểu được chúng. Các phần của tâm mà một người thường biết hay không hiểu. " Hệ thống" ngụ ý rằng kinh nghiệm của con người vốn rất phong phú và phức tạp có thể được dồn nén thành một hệ thống tâm lý cứng nhắc và rằng con người giống như những tổng đài khổng lồ có bao nhiêu là hệ mạch. Phật pháp không chấp nhận cái quan điểm rất hạn hẹp ấy, đấy là một sự sai lạc về Giáo lý.
chừng hai kẻ thù này trong sự phát triển của lòng từ.
Bi là chú ý tới những đau khổ của các chúng sanh khác trong thế giới. Bi nhiếp phục dưới sự lạnh lùng sắc đá trước tình trạng của các chúng sanh đau khổ, loài người hay không phải loài người. Cũng vậy, Bi cần phải đươc phản chiếu vào cuộc đời của chúng ta bằng thiện chí đi ra ngoài con đường của mình để giúp đỡ khi nào có thể được và hộ trì những người đang khốn khổ. Bi có lợi ích làm giảm trừ lòng ích kỷ của mình bằng sự cảm thông những sầu khổ của kẻ khác. Bi là phương thuốc của Đức Phật để trị liệu sự hung bạo và làm sao mà ta có thể làm hại những kẻ khác khi thấy rằng họ quá khổ đau?Bi cũng có hai kẻ thù : kẻ thù "gần" là sự sầu muộn, kẻ thù "xa" là hung bạo.
Hỉ là cùng vui với người khác về sự thành công, lợi dưỡng và hạnh phúc của họ. Hỉ nhiếp phục thái độ bọn xẻn đối với người khác và nhiếp phục về lòng ganh tị có thể khởi lên khi nghe nói về niềm vui của người khác. Hỉ cần biểu lộ trong đời sống của chúng ta như là một niềm vui tự nhiên ngay khi chúng ta vừa mới biết các người khác được lợi dưỡng hay được lợi ích vật chất hoặc không phải vật chất. Hỉ có lợi ích làm ta cỡi mở đối với người khác và loại trừ sự khép kín. Một người phát triển hỉ thu hút được nhiều bạn tận tụy với mình và người ấy sống hòa hợp với họ và những người khác. Hỉ là liều
thuốc của đức Phật đối trị sự đố kỵ mà hỉ có thể ngăn chận một cách hoàn toàn. Hai kẻ thù của hỉ là chính hạnh phúc cá nhân khi nghĩ đến những mối lợi của riêng mình - đó là kẻ thù "gần", còn kẻ thù "xa" là sự đối nghịch hay nhàm chán đối với hỉ này.
Xả cần được phát triển để đối xử các trường hợp mà ta phải chịu nhận là không thể làm gì được vì vượt ngoài khả năng của ta. Xả nhiếp phục sự ưu phiền và sự rối loạn vô ích về các sự việc hoặc là không liên quan đến mình hoặc là mình không thể thay đổi chúng được. Xả được phản chiếu trong đời sống chúng ta qua khả năng đối mặt với những tình trạng khó khăn mà vẫn trầm tĩnh và tâm vẫn vững vàng không dao động. Sự phát triển Xả có lợi ích là làm cho đời sống của ta giản dị hơn bằng cách giải tỏa mình bằng các hoạt động vô ích. Xả là phương thuốc của Đức Phật đối trị với rối loạn và ưu phiền. Kẻ thù của Xả là sự dửng dưng vô cảm, đó là kẻ thù "gần", còn kẻ thù "xa" là tham và cái đi kèm với nó là sân, đẩy đưa một cách bất thiện vào trong quá nhiều sự việc.
Cái tâm được khéo tu tập trong bốn đức tính này và khéo được huấn luyện bởi sự sử dụng các đức tính ấy trong đời sống hằng ngày sẽ thu hoạch rất nhiều lợi ích.
Ba hạnh Ba la mật cũng cần được nói qua ở đây vì chúng có ảnh hưởng đến việc hành thiền.
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »