Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 16: Các cảnh giới hiện hữu (Trang 83 - 105)

nên chớ dại mà tin tưởng nhiều vào những lời tuyên ngôn của họ (1)
Các cảnh giới hiện hữu ( các cõi sống)
sau đây là cảnh giới được phát họa từ những kinh nghiệm của các bậc Thánh Giác ngộ, bắt đầu kể từ cao "xuống thấp" là những cảnh giới mà ta có thể " thác sinh" vào tùy theo nghiệp của mình.
CHƯ THIÊN (nguyên nghĩa, những vị có thân chiếu sáng), Đức Phật và nhiều Bậc đạo sư khác đã tiếp xúc với các chúng sanh có đại lực hơn, sống lâu hơn và hạnh phúc hơn con người. Họ thụ hưởng những cảnh giới hiện hữu khác nhau thích ứng với những cao độ phát triển tâm thức khác nhau đang mở ra cho những con người tu tập.

 

(1) Một người tiếp linh ( đồng cốt - với điều kiện là không gian dối) có thể tiếp xúc được với một số ma quỷ mà như chúng ta sẽ thấy, thường hiện hữu trong một cảnh giới rất thấp. Những người tiếp linh thỉnh thoảng cũng tiếp xúc được một số vị thiên thấp kém ở các cõi trời thấp nhất - các cõi trời của dục giới. Do các ma quỷ, họ sẽ có được sự thông tin rời rạc bấp bênh ( thường được " diễn dịch" thuận lợi cho các đương sự liên hệ), chứ từ các vị thiên thì họ có thể có được những thông điệp có ý nghĩa hơn. Tuy nhiện, Phật giáo phê bác các thực hành tiếp linh mà cho rằng như thế là có hại cho người tiếp linh ( nguy hiểm vì làm xáo trộn tâm thức) và có hại cho các chúng sinh nếu các chúng sinh ấy đang tìm cách tái sinh, đáng ra phải được thoải mái và đi đến một sự hiện hữu mới mà không bị kéo trở lui bởi những ràng buộc cũ mà họ không còn có thể liên lạc hay sống chung đụng nữa. Đánh thức những ham muốn cũ trong họ thì chỉ là dày vò họ mà thôi.
Hãy xem một người quyết định trải qua đời sống của họ bằng triển khia thiền định. Thiền định như thế, người ấy chứng đạt các Cảnh giới Vô sắc. Trở nên thiện xảo trong các cảnh giới này ( quả thực là một điều rất hiếm ), vị ấy có thể chết với tâm an trú vào một trong bốn cảnh giới vơ sắc. Chết như thế, tâm thức vẫn tiếp tục hiện hữu ở cảnh giới ấy. Một cách quy ước, chúng ta có thể nói rằng: " Vị ấy đã sinh vào một cảnh giới Vô sắc nào đó", nhưng nếu nói như thế này thì gần đúng hơn: " Sự tương tục ấy, mà trên trần đời ta hiểu là một ông nào đó bây giờ đã thăng lên một Cảnh giới nào đó" ( không phải là " sinh" vì không có sự sinh đẻ thuộc vật lý trong chư thiên ), Chư thiên ở Vô sắc giới trú trong các cảnh giới riêng của họ ở Không vô biên sứ, Thức vô biên sứ, Vô sở hữu sứ, Phi tưởng phi phi tưởng sứ, qua những thời gia hầu như chúng ta không thề quan niệm được. Bảo rằng chư thiên ấy " hưởng thụ" những trường tồn dài lâu của họ thì cũng không đúng, bởi vì họ đã vượt khỏi sự hưởng thụ theo nghĩa thông thường của từ ấy khi mà chứng đắc của họ là thanh tịnh tự tại. Tuy nhiên, khi công đức tu tập trên cõi đời này để chứng đắc Vô sắc đã hết, họ không còn trụ trong loại cảnh giới ấy nữa và có thể rơi xuống tái sinh ở những Cảnh giới tâm thức thấp hơn, thường tái sinh vào chư thiên của sắc giới sắp được miêu tả.
Việc tu tập của Phật giáo đặc biệt không khích lệ sự chứng đắc những Cảnh giới Vô sắc này, vì là cảnh giới thiền định, các Cảnh giới Vô sắc có thể là cái gì đó của một " ngõ cụt" của tâm thức, trừ khi các cảnh giới ấy ở trong tay của một vị đặc tài thiền định, có thể sử dụng chúng một cách hiệu lực. Là những cảnh giới hiện hữu, các Cảnh giới Vô sắc có thể bị cô lập trong ý nghĩa vũ trụ, và nếu bị "dính mắc" vào đó thì người ta (không phải là số phận của nhiều người) bị cắt đứt tất cả hy vọng và triển khai Tuệ giác và do đó mất hy vọng đạt Niết bàn trong một thời gian dài. Chẳng hạn, người ta có thể không có dịp may để nghe các Bậc giác ngộ day Pháp trong suốt thời gian lâu dài hiện hữu trong các cảnh giới này.
Những sự tu tập có nhiều kết quả tâm linh hơn, dẫn người ta đi đến thể nghiệm các thế giới của Sắc ( sắc giới). Bằng sự chứng đắc Tứ Thiền như được diễn ta trong kinh Phật, người ta có thể chứng nghiệm các cõi Sắc khác nhau tương ứng với Tứ Thiền. Chư thiên sinh ở trong các cõi ( cảnh giới) này ( cũng như chư thiên của cõi Vô sắc) có cái thân tinh tế và thụ hưởng các niềm vui tâm thức. Trong khi cái sắc thái cơ bản ở con người là sắc thái dục lạc, thì ở trong chư thiên, sắc thái ấy biến đổi từ Thiện tâm đến tâm thanh tịnh ( về con đường đi đến các cõi trời của Sắc, xem II, các Phạm trú). Đời sống của chư
Thiên ở sắc giới này không lâu dài bằng chư thiên ở cõi Vô sắc nói trên kia nhưng vẫn còn quá miên trường so với các tiêu chuẩn ở trái đất này.
Trong chư thiên ấy,  có một số thiên  tự hào về tình trạng của họ và tin ( do sự việc của họ xuất hiện trước tiên trong cảnh giới họ đang trú) rằng họ là " vị Chiến Thắng, bậc Vô địch, bậc Toàn kiến, bậc Điều ngự, vị Chúa tể, đấng Tạo hóa, đấng Sáng tạo, vị Lãnh đạo, bậc An bài, bậc Đạo sư, vị Thân phụ của tất cả những gì đã hình thành và sẽ hình thành". Đức Phật có nhiều duyên bảo chư thiên ấy,  chỉ cho thấy rõ rằng họ chưa phải là Vĩnh cửu, căn bản họ cũng giống như mọi chúng sinh khác đang sống, cũng vô thường, cũng đã có một đời sống trước đó và cũng rất có thể biết được đời sống kế tiếp.
Theo Tuệ giác siêu thế của Đức Phật, những ai tự nghĩ mình là đấng sáng tạo  Vĩnh cửu, thì chính họ đã lầm lẫn. Trong những đời quá khứ, họ đã thực hành nhiều thiền định và vì vậy có được ngôi vị lớn lao ngay trong chư thiên nhưng họ không nhớ các đời sống quá khứ của họ, cũng không đạt được nhiều Tuệ giác ( nếu được như thế thì họ đã không sinh ra nơi họ đang ở). Các vị thiên khác thuộc nhóm tự cho mình là " đấng Sáng tạo" chết đi, thác sinh làm người và nhờ thực hành thiền định, nhớ được đời sống trước đó, nhưng không thể nhớ được các đời sống trước hơn nữa. Với sự xác tín sâu xa như vậy,
họ đi đến tin tưởng rằng vị thượng đế này hay vị thượng đế kia mà họ nhớ một cách rõ ràng là đấng Tạo hóa dựng lên Trời, nên Đất, v.v. Trên căn bản hiểu biết bất toàn ấy, bị naung nấu bởi sự cảm nghiệm nội tâm, họ tuyên bố thông điệp của họ cho cuộc đời. Chính vì thế mà năm trăm năm hay một nghìn năm liên tục về trước, những đức tin chính về thế giới thần quyền xuất hiện. Đức Phật với Tuệ giác của Ngài, đã từ hòa chỉ rõ nguồn gốc của các tôn giáo như thế.
Cũng có nhiều vị thiên hỏi Đức Phật và đã được Ngài dạy trong lúc Ngài tịnh cư thiền định giữa các vị ấy. Nhiều vị đã trở nên đệ tử của Ngài và vẫn sống vừa tu tập vừa giáo hóa những kẻ khác trong các Cõi Sắc giới ấy. Với các thiền định này làm căn bản, hay trú như một vị thiên trong thiền định, người ta có thể triển khai tuệ giác, với điều kiện là có được những lời khuyên đúng đắn. Như vậy họ mới có thể có kết quả, sau khi sống lâu dài ở đấy, nếu không giải thoát khỏi vòng tái sinh, thì ở đời sống kế tiếp, các vị thiên ấy thường sinh vào trong nhóm chư thiên thấp nhất ( xem dưới đây), hoặc lại sinh làm người.
Một người sống đời giới hạnh không lầm lỗi và làm cho công đức ( xem II) và có thể cũng có một ít thiền định ( mà không chứng đạt các thiền tư) là đã nâng tâm thức của họ cao hơn mức độ của những
người bình thường, tuy nhiên chưa phá vỡ được bức tường của nhục dục. Lúc chết,  tâm trí người ấy trú vào niềm vui an định về một cuộc đời có lợi cho những người khác, người được sinh lên các Cõi Trời Dục giới. Có nhiều cấp độ khác nhau ở đấy, nơi mà người ta có thể hưởng thụ các dục lạc vi tế. Trong chư thiên của những cảnh giới này có nam giới và nữ giới, giữa họ có tình yêu tinh tế  của chu thiên ( chu thiên ở cõi cao vượt lên trên đối tính thô phù của sự sai khác giới tính).
Nói chung những ý niệm thông thường của một số tôn giáo khác về Cõi trời hay Thiên đường tương ứng với các cảnh giới này, được diễn tả trong Phật giáo rất rõ ràng, sự chính xác này được phát sinh từ kinh nghiệm thực sự của đức Phật và nhiều Bậc Thánh kế tiếp. Đời sống tong các cảnh giới ấy chắc chắn là rất thích thú, ngắn hơn đời sống của chư thiên ở cảnh giới cao hơn. Ở trong các cảnh giới này số chư thiên hiểu được chân lý của Đức Phật ít hơn, vì họ bị thu hút quá nhiều vào các thời gian đầy hoan lạc nên không thể lắng nghe hay tu tập những giáo lý về Giới, Định, Tuệ. Tuy nhiên, theo truyền thống Phật giáo, một trong các cõi trời ấy là trú xứ của vị Phật tương lai, gọi là Di Lặc, đấng Từ thị. Bây giờ Ngài là một vị Bồ Tát đang ở trong đời sống sau cùng của Ngài, chỉ còn đời ấy thôi và chờ nhân duyên thích hợp để cuối cùng giáng sinh xuống cõi
đời này, chứng đắc Toàn Giác và chỉ rõ Con Đường Xưa, là giáo pháp đã được chỉ bày bởi vô lượng đức Phật quá khứ, và bởi đức Gotama trong đời hiện tại cho nhiều người nữa trong tương lai. Để kết luận phần trình bày về chư thiên rất giới hạn của chúng tôi, ta sẽ dùng các dụ xưa trong kinh Pali để soi tỏ vị trí của các chư thiên ấy. " Sinh" trong cõi chư thiên được ví như một người mỏi mệt đang đi trong một ngày nóng bức, cuối cùng đi đến một tòa lâu đài lộng lẫy, trong đó, trên một ghế trường kỷ được trang hoàng và được phủ lên bằng các vật liệu đắc giá, người ấy nghỉ ngơi và kinh nghiệm những cảm thọ vô cùng hoan lạc (1).
Những chúng sinh được đề cập sau cùng là chư thiên ở Dục Giới và trong các cảnh giới này, chúng sanh sinh ra bằng các loại  sinh còn lại ( noãn, thai và thấp sanh), ở đó như chúng ta biết, vì sự có mặt của nhục dục nên luôn luôn có mâu thuẫn ở một cấp độ

 

(1) Đôi khi người ta bảo Phật giáo là " vô thần" hay là một "tôn giáo không có thần linh". Những gì đã được nói trên hẳn xua tan quan niệm ấy, đúng hơn là điều chỉnh nó. Các vị thần có thể được tôn thờ nhằm cho những phước lạc có giới hạn và thuộc trần gian; nhưng chính các vị thần (hay chư thiên) thì vô thường và tầm thường, không thể thỏa mãn cho cầu xin liên hệ tới Giải thoát ( Niết Bàn) vốn siêu thế gian mà học chưa chúng đắc. Các vị thiên nhỏ hơn cũng gần như tương đương với các thiên thần, trừ sự việc là theo thần thoại học Thiên Chúa Giáo bảo rằng người ta không thể trở thành một thiên thần. Phật giáo chỉ là vô thần trong ý nghĩa rằng Phật giáo phê bác lý thuyết về một nguyên nhân Đầu tiên, một Thượng đế sáng tạo.
nào đó. Ngay cả trong chư thiên ấy, có trường hợp ( dù không có chư thiên cao hơn của hai Cảnh giới kia) có ham muốn, dù là những lạc thú tinh tế hơn những lạc thú mà loài ngưới thường khao khát, họ phải chiến đấu  với những kẻ thích chie61ntranh, những kẻ có gốc là chư thiên mà bị đuổi ra khỏi các cung trời vì tánh hay tanh cãi ( hãy so sánh sự sa đọa của Satan và nhóm người của nó). Những chúng sanh này có thể gọi là A Tu La có quyền năng lớn nhưng hay tranh cãi và ganh tị. Không những họ đánh nhau với chư thiên cõi thấp mà còn tự gây hại, làm tổn thương nhau nữa. Thế giới của họ là thế giới của quyền lực và đắng cay, một sự tập hợp kỳ lạ vả kinh khủng.
Loại sinh hữu này liên hệ thế nào với cuộc sống con người? Giả tỉ một người thích quyền lực và dành thì giờ của họ để đảm bảo quyền lực của họ đối với những người khác. Anh ta thích nhất là ra lệnh, ngay cả những khi lệnh ấy làm tổn hại người khác. Anh ta âm mưu, hoạch định, mưu đồ và không ngần ngại loại trừ các địch thủ bằng các phương tiện bạo lực. Tâm trí của anh ta, vì được xây dựng trên sự đạt quyền lực trong suốt cuộc đời, nên không thể từ bỏ sự khát khao quyền lực khi anh ta chết. Vì chết với tư tưởng nắm giữ quyền lực đối với những người khác mà hình như quyền lực ấy đang lẩn trốn khỏi anh nên anh thác sinh vào loài A Tu La, ở đó hẳn là
anh có quyền lực - nhưng tất cả những người khác trong cảnh giới ấy cũng có quyền lực. Đó là cảnh giới của những ai có quyền lực mà lạm dụng quyền lực hướng đến. Một chỗ thác sinh không vui vẻ tí nào cả.
Kế tiếp mức thang ấy là con người. Trong một ví dụ của kinh Pali, tình trạng con người được diễn tả như sau: một người đang du hành theo một con đường nào đó, đi đến một cây lớn, rợp bóng, phía dưới có chỗ đất bằng tiện lợi; người ấy nghỉ ngơi ở đấy và cảm thấy vô cùng sung sướng. Chư thiên và con người được gọi là những cảnh giới hạnh phúc, trong khi đó A Tu La và ba loài sinh khác sẽ được diễn tả dưới đây  rõ ràng là  "khổ đau".
Con người chiếm một vị trí rất quan trọng trong vũ trụ của Phật giáo, sự thật không phải bởi vì con người được " sinh ra mang hình hài của Thượng đế" mà bởi vì con người có năng lực quyết định. Đời người là hỗn hợp của một chút hạnh phúc và đắng cay. Những người cảm nghiệm hỗn hợp ấy sẽ không luôn luôn bị ru ngủ vào một cảm giác an ổn giả tạo bằng quá nhiều lạc thú và nhờ có cái thuận lợi lớn là khá thông minh nên có thể làm cái gì đó cho những thống khổ của mình.
Tương phản với điều này, chư thiên sống những đời sống cao hơn, từ đời sống với nguồn lạc thú siêu
 đẳng qua đời sống hạnh phúc tỏa sáng, đến đời sống xả niệm hiếm hoi và những chỗ ở của họ rất thích thú, họ thường không quan tâm đến sự phát triển tích cực đưa đến Siêu thế giới ( trừ khi họ được thức tỉnh bởi một vị Phật hay các Bậc  đại Thánh khác). Họ cũng sống theo sức mạnh thuộc tâm lý nhiều hơn và như thế khả năng đưa ra những  quyết định khác thường của họ bị hạn chế ( như tích cực theo đuổi một sự cầu tìm có tính cách tôn giáo). Các A Tu La thì quá bận bịu với việc tranh cãi và việc gây hại đến nổi không thể thực hành một Con Đường giải thoát. Trong ba loài sinh kia, ngạ quỷ chỉ quan tâm đến khát ái không được thõa mãn, loài súc sinh thì tâm trí tập trung vào thức ăn và tình dục, trong khi đó thì những sinh linh bất hạnh ở địa ngục bị hành khổ quá nhiều bằng vô số cách đến nỗi không nghĩ đến Đạo
 Con người có thể và có cơ hội nghĩ đến Đạo. Con người ít khi thực sự tu tập Giới, Định, Tuệ và khi tu tập được như thế, con người trở thành Đạo vì các yếu tố của Đạo trở thành một phần trọn vẹn của đời sống của con người. Chính vì nhằm cho con người mà Đức Phật dạy hầu hết giáo lý quan trọng của Ngài vì Ngài biết rằng con người có thể hiểu giáo lý, thực hành giáo lý, và đi đến chứng ngộ giáo lý (như ba chương của cuốn sách này cố gắng trình bày).
Một người có thể quyết định dành cuộc đời cho những mục tiêu ích kỷ, bất thiện, một hiện hữu suông, rỗng, hoặc quyết định dành đời mình nhằm thực hiện các việc thiện làm cho những người khác và chính họ được hạnh phúc. Quả thực, có một tồn chứa các khuynh hướng tập quán từ trong quá khứ ảnh hưởng đến người ấy. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, con người cũng có thể có những quyết định sinh động để uốn nắn đời mình theo cách này hay cách nọ. Làm như thế, họ cũng tạo hình thái  cho đời sống tương lai của họ, vì như đã giải thích, các hành vi thiện gia tăng sức mạnh của thiện trong tâm, do đó đảm bảo một đời sống tái sinh hạnh phúc: Các hành vi bất thiện sẽ chỉ sản sinh một đời sống tương lai khốn khổ nếu người ta trợ lực cho một cái tâm lệnh lạc, bệnh hoạn.
Chính con người, nếu muốn, có thể chứng nghiệm Giác ngộ tối thượng và trở thành chư Phật - đây là hạnh phúc tối đại vì không phải chỉ chứng đắc sự an tịnh của giải thoát của một người mà còn khai thị Đạo cho nhiều người khác do lòng Từ bi nữa. Bạn đọc sẽ hiểu ngay rằng được sinh làm người là điều vô cùng quý báu, là một cơ hội lớn lao không nên để uổng phí. Trong một bản kinh Pali,đức Phật đã có lần soi sáng ý nghĩa hiếm quý ấy của kiếp người như sau: Giả tỉ có người ném vào đại dương một mảnh ván, trên mảnh ván có một lỗ
hổng, mảnh ván trôi dạt do nhiều luồng gió và nhiều dòng nước xô đẩy trên đại dương. Trong đại dương có một con rùa chột mắt, một trăm năm mới ngoi đầu lên mặt biển một lần để thở. Dù cho mất cả một Đại Kiếp, con rùa cũng khó mà trồi lên mặt nước và chui đầu qua được lỗ hỏng của mảnh ván ấy. Cũng thế, nếu một khi người ta đã bị đọa xuống ba cảnh giới đầy thống khổ kia thì việc được tái sinh làm người cũng thật là hiếm hoi. Những cảnh giới khổ đau này là những sự báo động cho chúng ta rằng nếu chúng ta nuôi dưỡng Tham, Sân, Si, trong tâm thức chúng ta, thì những loài sinh hữu ấy có thể sẽ là đối tượng của lòng khát ái của chúng ta khi chết.
Ở dưới con người, trong nấc thang tâm thức là ngạ quỷ. Các chúng sanh này thỉnh thoảng được người ta thấy, nghe hay nói cách khác, được một số người kinh nghiệm. Chúng sanh về cảnh giới ấy bằng cách nào? Chúng sinh về đó bởi lòng tham. Hãy nghĩ đến những người cứ bám chặt vào tiền tài, vào những sở hữu vật chất, vào gia đình. Những người hà tiện, những người là những loại bạch tuộc, những người thích thú trong sự thủ  đắc các thứ nhiều hơn, tốt hơn, lớn hơn so với làng xóm láng giềng - những người như thế đang triển khai các yếu tố tâm thức mà nếu họ chấp chặt vào đó thì chúng sẽ dẫn họ tháa sinh vào loài ngạ quỷ.
" Ngạ" (đói) nghĩa là luôn luôn cảm nhận những khát ái không bao giờ được thỏa mãn - vì sự xúc tiếp với gia đình trước đây của họ, những người mà trong vài trường hợp ngạ quỷ có thể báo hiệu nhưng không giao tiếp được, vì tiền bạc và của cải của họ mà chính họ có thể thấy nhưng không sở hữu được. Quả thực họ đang ở vào vị trí của Tantalus của câu chuyện thần thoại Hy Lạp, bị trói buộc một thời gian dài, khát khoa những thứ không bao giờ có được. Đời sống của họ dài và khốn khổ, rất nhiều ngạ quỷ không thể nhận thức được ngày hay đêm, chỉ thấy một màu xám vô tận, ở đó thỉnh thoảng có những vật lờ mờ xuất hiện. Khi nghiệp ác đã đưa họ vào cõi ngạ quỷ vơi đi, họ sẽ tái sinh và nếu có được làm người thì cũng bị biếng dạng ( tàn tật) một cách nào đó. Tuy nhiên, cuộc điều tra về nhiều trường hợp tái sinh cho thấy rằng nhiều người mà đời sống thình lình bị cắt đứt, có lẽ hầu hết mọi người, thường trãi qua một loạt cõi trung gian ( làm thân trung cấu) trong hình thái ma quỷ và hoàn cảnh sống có ít nhiều sự dễ chịu trong khi chờ đợi dịp may được tái sinh phù hợp với nghiệp của họ.
Cái ví dụ ở trong kinh Pali, diễn tả tình trạng ngạ quỷ như là tình trạng của một con người dù mệt mỏi nhưng chỉ tìm thấy được một cây gãy đổ, cho một cái bóng lổ nhổ, người ấy " nghỉ ngơi" dưới bóng cây ấy, trên nền đất lởm chởm những đá. Người ấy
kinh nghiệm, như một ngạ quỷ, những cảm thọ đầy khổ đau và chỉ phớt tô một chút hạnh phúc.
" Xuống thấp" nữa, là thế giới của chúng sanh. Đây là nơi ngự trị của si mê hay đồn độn, của sự vô khả năng hiểu biết.
Những người đọa xuống cảnh giới thấp hơn cảnh giới người do việc việc chấp đầy đầu óc mình rặt những ý tưởng về thức ăn, thức uống và tình dục, đang tự đem lại cho mình sự tái sinh vào loài súc sinh.
Loài súc sinh không những không có khả năng hiểu biết mà hầu như trọn đời rất khốn khổ. Những thú rừng thì sống trong sự sợ hãi hoặc bị thú khác hoặc bị người giết ăn thịt, hoặc nếu chúng là thú ăn thịt thì chúng bị đẩy đi giết các thú khác, trong khi tất cả đều sợ đói, điều mà chúng không thể làm gì để giải quyết được. Gia súc thì đau khổ, phần lớn chúng bị sử dụng vào mục đích riêng của con người. Họ tham thịt thú, da, lông, xương, mỡ hay sừng, nanh của chúng; hay bắn chúng " cho vui" hay săn chúng bằng nhiều cách để giải thích ( nhưng những con thú bị săn có vui thích được không nhỉ?). Chúng phải đương đầu với nóng lạnh, các loại ký sinh, các bệnh tật, mà không thể làm gì có hiệu quả để chữa trị các đau khổ ấy cả. May mắn cho loài súc sinh, đời sống của chúng thời ngắn ngủi và đau khổ thường qua mau. Dù đây là điều may phước cho súc
sinh, nhưng một chúng sinh đang làm súc sinh, thật khó có thể có cơ hội để làm các công đức, hay ngay cả để hiểu những lợi lạc của việc làm các công đức ấy, điều ấy ngăn chặn chúng sinh ấy đạt tới với việc thác sinh làm người cho đến khi có một kết quả nào đó của thiện nghiệp từ quá khứ xa xăm khởi lên và giúp cho chúng sanh ấy thoát khỏi sự tái sinh liên tục trong tình trạng súc sinh. Đang từ loài vật mà được sinh làm phận người, các chúng sinh ấy thường đần độn, một tàn tích của đời sống trước (1).
Có một ví dụ trong tạng Pali nói đến một con người đang đi học theo con đường  và bỗng đến cái hố rác đầy cả những thứ dơ bẩn hôi hám, người ấy rơi vào hố đó và cũng như con thú phải thọ nhận những cảm giác đớn đau, nhức nhối, khắc nghiệt.
Vì loài cầm thú ở trong phạm vi nhận thức của con người và hẳn là một ngày nào đó chúng có dịp

 

(1) Các triết thuyết thần học thường bảo rằng con người chỉ có thể tiến lên từ đời sống này sang đời sống khác, bao giờ phát triển tâm linh đến các trạng thái cao hơn. Phật pháp không chấp nhận  điều này khi ghi nhận về sự việc con người không phải chỉ thăng tiến mà còn thoái hóa nữa. Những người ( lấy những trường hợp cực đoan cho dễ hiểu hơn) đã là những cảnh vệ S.S. Ở Auschwitz hay ở Belson hay những người hoạch định và thực sự phạm vào việc thả bom nguyên tử ở Nhật Bản, hay những người cứ mải giết thú vật để thỏa mãn những ham muốn của con người, hay những tội lỗi tàn nhẫn, hay những người ở mãi trong các bệnh viện tâm thần, v.v...., những người như thế hẳn nhiên không có sự thăng tiến được. Tất cả họ đang bị trụt xuống mức thang đã nêu, tuột khỏi mức độ con người mà xuống đến những tình trạng dưới người mà ta đang bàn ở đây.
may đạt được Giác ngộ ( chúng không phải sanh ra để người ta sử dụng cách này cách nọ) cho nên các Phật tử thường cư xử tốt với cầm thú, quan tâm đến cảm thọ của chúng.
Cái điều kiện sống thấp nhất và khốn khổ nhất, tuy thế, lại không thuộc kinh nghiệm thông thường của con người: địa ngục thường không được con người trực tiếp nhận thức (1). Hình như một số người bị điên loạn trong đời này thật sự sống trong địa ngục, vì thế giới của họ chắc chắn không giống như thế giới của chúng ta. Người chỉ thỉnh thoảng mới hành thiền hoặc bị lệch hướng ( rất nguy hiểm cho sự ổn định tâm thức của mình) hoặc thật sự có thể kiểm soát chặt chẽ được tâm mình, cũng có thể có kinh nghiệm về các trạng thái địa ngục. Một thiền giả của Ấn Độ đã tả lại rằng ông bị rơi xuống một chỗ nào đó như là một  cái hố vô cùng tối tăm và đáng kinh sợ, đáy hố là một khối hết sức dơ bẩn, trong đó các

 

(1) Cũng như tất cả các trạng thái khác, hoàn cảnh địa ngục là có thời hạn và, dù thường kéo dài rất lâu, luôn luôn đi đến lúc chấm dứt khi nghiệp tạo ra loài sinh này tiêu tan, ý niệm về sự kết án đời đời bị các Phật tử hoàn toàn kinh ghét khi họ hỏi rằng các thứ Thượng đế nào lại có thể quan niệm một chỗ như vậy?
Trong lĩnh vực luận lý, một Phật tử xác quyết rằng một nguyên nhân hữu hạn ( một hành động ác trên đời này) không thể sản sinh một kết quả vô hạn ( sự kết án đời đời), những nguyên nhân hữu hạn chỉ có thể tạo ra những kết quả hữu hạn: do đó mà địa ngục cũng như thiên đường đều phải chịu vô thường. Một tôn giáo nhấn mạnh sự quan trọng của Từ bi như Phật giáo không thể nào quan niệm về địa ngục vĩnh cửu được.
chúng sanh chỉ nhận dạng được một nửa, đang phấn đấu trong nỗi đau đớn lớn lao một cách chậm chạp và vô hiệu. Đây hình như chỉ là một khía cạnh của các cảnh giới địa ngục, vì cực nóng hay cực lạnh cũng như hiện hình ma quái được trực nhận trong địa ngục này ( tất cà những hiện tượng như vậy được phát sinh trong tâm thức của những ai sống trong đó, do sức mạnh của những hành vi bất thiện trong quá khứ).
Theo tâm lý học Phật giáo, yếu tố  tâm thức về sân luôn luôn nối kết với kinh nghiệm khổ đau. Người ta có thể tham và lạc cùng lúc, nhưng không bao giờ vừa sân vừa lạc cùng một lúc. Bất kỳ ai vun xới oán ghét, sân hận, giận dữ, tính ác nuôi dưỡng sự trả thù hay bảo tồn lòng căm hận thì bị trói buộc vào kinh nghiệm khổ đau như thế, vì người ấy đã nắm giữ một nguồn rất mạnh của khổ đau. Những ai gieo hận thù cho người khác như giết chóc, hành hạ hay cắt xẻo thân thể, có thể sẽ sinh vào một cảnh giới được ví như các dụ trong kinh, với các hố than hừng hực, ở đó sẽ thể nghiệm những cảm thọ cực kỳ đớn đau, nhức nhối, khắc nghiệt. Chỉ trong những hoàn cảnh như thế họ mới có thể kinh nghiệm những nỗi khốn khổ mà do sự bất thiện của chính họ, họ đã tự đem đến cho họ.
Đời sống trong các địa ngục dài hay ngắn tùy theo từng địa ngục khác nhau, chỉ rõ cho chúng ta sự
trầm trọng của điều xấu mà chúng ta đã làm khi đem sầu khổ đến cho kẻ khác với một cái tâm chất chứa đầy oán ghét. Làm như thế là sự mời gọi sự thống khổ liên tục, và sau cùng những chúng sanh kinh hoàng và khốn khổ ấy thoát khỏi cảnh địa ngục là do nằm được kết quả vài việc thiện nho nhỏ, có thể sinh lên làm cầm thú, vì hiếm khi các chúng sinh ở địa ngục có thể nhảy từ địa ngục lên cảnh giới con người. Nếu được sinh làm người thì chúng sinh ấy sẽ bị vừa dị dạng, vừa ngu muội, đấy là sự nhắc nhở đáng sợ đến đời sống trước đây của người ấy. Các du khách đến các nước Phật giáo, thỉnh thoảng có thể chú ý đến một người như thế đang được các người thân của họ bố thí hay làm các công đức khác để hồi hướng cho người khổ nạn kia có thể trở nên trọn lành trong đời sống kế tiếp.
Cần lưu ý các cảnh giới khác nhau được diễn tả ở đây rằng trong mọi trường hợp, các cảnh giới đều được kinh nghiệm bởi chúng hữu tình, do sự vun trồng của các yếu tố thiện hay bất thiện. Vì thế, quả thực là đúng khi bảo rằng một số yếu tố tâm thức hiện diện bằng các tậm hợp, làm khởi sinh một loại tâm thức nào đó, và tâm thức ấy sẽ phát sinh ra một hoàn cảnh tương ứng. Giáo lý Phật giáo về sự hiện hữu của một số chúng sinh tái sinh, như thế không phài là tưởng tượng trống rỗng mà nhấn mạnh sự kiện mà trong giáo lý của đức Phật chỗ nào cũng được nói đến, về sự quan trọng nhất của trạng thái
của tâm thức. Tâm như thế nào thì nhận thức một thế giới như thế ấy, đấy là một minh họa khác nữa của Duyên khởi.
Cái Tâm, vượt qua những giới hạn phàm trần của nó, có thể chứng đắc siêu thế " vượt khỏi" mọi cảnh giới hiện hữu khác nhau ( xem III). Một sự chấm dứt hữu sinh liên tục chỉ có được khi người ta vững vàng đạt đến những sự thông Tuệ của đức Phật và các Bậc Thánh của chứng đắc. Sự ngưng bánh xe sinh tử đã xảy ra cùng lúc với Thắng trí mà đức Phật đã chứng, đó là Đại An tịnh của Niết bàn. Kinh Pali có một ví dụ tuyệt vời diễn tả Niết bàn, xin dẫn lại đầy đủ ở đây: " Này Sariputta, với tâm của ta, ta biết tâm của một người nào đó rằng: Người ấy đi xa và vì người ấy đang tiếp tục đi và đã vào con đường ấy, cho nên người ấy sẽ do sự đoạn trừ các Lậu hoặc mà thể nhập và an trú vào sự giải thoát tâm thức, sự giải thoát bằng trí tuệ trực tiếp, là những thứ không có lậu hoặc sau khi đã thể chứng những giải thoát ấy ngay đây, giờ đây bằng Thắng trí của mình. Sau một thời gian, ta thấy người ấy do đã làm như vậy, đang an trú trong các giải thoát ấy, đang thể nghiệm những cảm thọ vô cùng an tịnh. Này Sariputta, giống như có một hồ sen đẹp đẽ với nước ngọt, mát và sáng, trong vắt, với bờ hồ sinh đẹp, gần hồ ấy có một khu rừng rậm rạp, đầy bóng mát. Và một người đi đến bị cái nóng của mùa nóng bức ép, mệt lả, khô cổ, đắng họng, đi thẳng đến hồ sen ấy bằng một con
đường độc nhất. Một người có mắt thấy người ấy, có thể nói: Thiện nhân ấy đang đi và đã bước vào đạo lộ như vậy, người ấy sẽ đi đến hồ sen ấy.  Sau một thời gian người ấy sẽ thấy người kia phóng mình vào hồ sen đó, tắm trong đó, uống nước hồ, và sau khi làm cho dịu bớt mọi ưu tư, mệt mỏi, phiền não, người kia ra khỏi hồ và ngồi hay nằm trong rừng rậm rạp ấy mà thọ nhận những cảm giác vô cùng an tịnh" ( Trung bộ kinh I: 76-7)
Vì Phật giáo là tôn giáo cũa Tử bi cũng như của trí Tuệ, Phật tử nghĩ đến những khổ đau và cố giải trừ những khổ đau cho những ai thác sinh vào cảnh giới bất hạnh. Trên nguyên tắc, điều này là do họ làm việc thiện và hồi hướng công đức ấy cho hạnh phúc của các chúng sinh khác. Những lời dạy về hồi hướng công đức ấy là một dẫn chứng khác về việc sử dụng giáo lý một cách thiện xảo như là một " phương tiện". Để cho con người không có tích lũy công đức cho riêng mình và để họ phát triển tâm từ bi, tâm đối với tha nhân, họ được khích lệ hồi hướng công đức cho những chúng sinh khổ đau. Sự hồi hướng thường ngắm đến các ngạ quỷ và các thân nhân quá vãng, những kẻ có lẽ giờ đây đang cảm nghiệm những thống khổ của cảnh giới kia; điều ấy cũng có lợi ích rất thực tiễn trong việc xoa dịu các chúng sanh kia, là khiến họ không quấy nhiễu con người.
Sau cùng, một câu hỏi, có lẽ ngây thơ, thường nói về tái sinh, cần được trả lời: Ngày nay, dân số
của thế giới đang gia tăng, tất cả những người "mới" ấy từ đâu đến? Câu hỏi được trả lời một cách tổng quát về chỗ từ đâu, người ta đã biết rõ đời sống con người không phải là một hiện tượng cô lập mà là một sự chảy trôi liên tục. Sự chảy trôi ấy về mặt tâm thức, có thể thăng lên các cảnh giới khác hay thoái xuống các cảnh giới thấp hơn con người, vượt ra số loài người ít đi trên trái đất này ( hãy nghĩ đến riêng còn số loài kiến ở một nước so với dân số loài người). Nhưng tư tưởng Phật giáo không giới hạn ở hành tinh vô nghĩa này mả luôn luôn xét đến những con số vô lượng của những thế giới hệ rộng lớn hơn ( những thiên hà, theo ngôn ngữ hiện đại) có sinh linh cư trú theo điều kiện của những thế giới hệ ấy. Chúng sinh của một thế giới hệ này, không bị tách biệt với chúng sanh của một thế giới hệ khác dù việc tái sinh thường xảy ra trong cùng một thế giới hệ, nhưng đấy không phải là trường hợp tất yếu. Tuy nhiên, thường một người trong đời sống trước muốn tái sinh ở loài người, sẽ được sinh trở lại trong nhóm người tương tự. Đôi khi người ấy tái sinh trong cùng một gia đình, nhất là khi những chấp thủ về gia đình mạnh. Tôn giáo vẫn chế ngự nhiều vấn đề xã hội và như thế có ảnh hưởng đến nhiều hoàn cảnh sống chung quanh, do đó thường vẫn giữ tình trạng ấy từ kiếp sống này qua kiếp sống khác, dù điều ấy không hẳn luôn luôn như thế. Phái tính cũng có thể thay đổi.
Nhìn qua đồ biểu sau đây tóm tắt phần này ta sẽ thấy rõ : ( xin xem hình dưới)
GHI CHÚ VỀ ĐỒ BIỂU
Các cảnh giới hữu tình có sự hiện hữu hoặc do ngũ quan hay do ý thức được nêu từ đỉnh xuống đáy theo thứ tự càng xuống càng thô, dĩ nhiên không nên hiểu các cảnh giới này thực sự là cái này cao hơn cái kia - chúng chỉ trên hay dưới trong ý nghĩa tâm thức của tính chất tương đối về ưu thắng ( gia tăng hạnh phúc) hay hạ liệt (gia tăng cảm thọ khổ đau) của chúng mà thôi. Độ lượng mà trong đó chúng hiện hữu một cách khác nhau là độ lượng của tâm thức như chúng tôi đã cố gắng tỏ rõ trước đây.

 
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »