người lành mạnh; người ta chỉ canh giữ riêng những trường hợp trầm trọng nhất của những ai mà ba Căn bản bất thiện này ở trong họ không được kiểm soát, làm bế tắt mọi ý thức thiện. Những ai không hiểu biết Tuệ giác Tối thắng phi nhị biên đều bị rối loạn tâm thức ở một cấp độ nào đó, ý thức của họ đều bị chia chẻ, cong quẹo. Chỉ những người "toàn thiện" là những người có được tri giác phi nhị biên và vì thế họ cũng thực sự là " Thánh thiện" ( từ" toàn thiện" và " thánh thiện" có liên hệ về ngữ nguyên ( xem Thánh tính của Toàn thiện, phần III).
Các điên đảo
Từ những Căn bản bất thiện này, phát sinh những Điên đảo phức tạp hơn, nghĩa là khi chúng ta nhìn con người, các đối tượng và ngay cả những khái niệm, tất cả đều mãi biến đổi từng giây từng phút mà cho là thường hằng, nhìn những gì thực sự mang đầy khổ đau mà cho al2 lạc thú, nhìn mọi hiện tượng từ các điện tử đến các thiên hà, cả vật lý và tâm lý, cả sinh vật và phi sinh vật ( hữu tình và vô tình) tất cả chúng thật sự không có cốt lõi, bản chất, limh hồn hay tự ngã nào mà cho là chúng thực sự có một thực thể nào đó làm nền tảng; và sau hết, cái điên đảo nhìn những gì thực sự không ưa thích, không tránh khỏi sự suy tàn và cả đến " uế tạp" mà cho là đẹp đẽ.
Những Điên đảo này có mặt ở ba cấp cường độ, lần lượt được gọi là Tưởng điên đảo, tâm điên đảo và Kiến điên đảo. Tưởng điên đảo nghĩa là chỉ riêng nhận thức của người ta bị méo mó mà người ta nhận thức sự vật một cách sai lầm, không đúng như chính sự vật ( như thấy sợi dây mà nhầm là rắn, hay nghe gió rền mà lầm là ma quỷ, v.v.). Tâm điên đảo là nhìn những tư tưởng thực sự bất thiện và sẽ đưa đến khổ đau mà cho là đưa đến hạnh phúc ( như cứ chờ đợi một đối tượng lạc thú nào đó trong tương lai, một người, nơi chốn hay sự vật mà cái tâm bị điên đảo sẽ cho là ban bố hạnh phúc chân thật). Điên đảo này có lẽ chỉ là một sự hiểu biết sai lầm của tri thức, chỉ là kết quả của sự thông tin hay giáo dục sai lầm, nhưng cấp cường độ thứ ba thì nghiêm trọng nhất, bao gồm một thái độ tình cảm điên đảo. Đây là Kiến điên đảo, như khi người ta thủ chấp vào quan điểm về chính trị, triết lý hay tôn giáo và xem nó như chân lý tối hậu mà không đặt nó vào sự thẩm xét của Trí tuệ Toàn hảo là khả năng độc nhất để khám phá Chân lý Tối hậu.
Trong bốn điên đảo đề cập ở trên, mỗi Điên đảo đều có thể được cảm thọ trong ba cấp cường độ này và đoạn sau đây sẽ làm sáng tỏ ý nghĩa các điên đảo ấy. Trước hết chúng ta bị đánh lừa bởi những bộ mặt tạm bợ bên ngoài của sự vật. Chúng không lộ vẻ là đang thay đổi, chúng tỏ ra ổn định
trước các giác quan ( căn) si muội của chúng ta. Chúng ta không cảm nhận những quá trình trong biến dịch sinh động mà chỉ cảm nhận những thực thể đang tiếp tục tồn tại như chúng ta tưởng. Sự tương tự, vì lẽ nó cho thấy một chuỗi biến dịch theo một hướng cho sẵn, nên thường bị nhận lầm là sự giống y. Nếu hiểu biết sai lạc này cắm rễ vững chắc trong tâm ta, thì mọi sự chấp thủ và ham muốn sự vật và con người ( gồm sự chấp thủ tự ngã) sẽ được hành thành và chúng sẽ được mang theo nhiều phiền muộn, vì nhìn sự vật và con người theo cách này thì chính là nhìn chúng qua một tấm gương méo mó. Đấy không phải là nhìn chúng một cách đúng đắn, đấy là nhìn chúng một cách điên đảo mà xem như là thường hằng vậy.
Thứ hai, khổ đau xuất hiện một cách điên đảo thành ra lạc thú. Như vậy con người phung phí nhiều đời sống quý báu của họ vào "lạc thú" này hay" lạc thú" kia và vì không bao giờ thõa mãn được những gì họ khao khát nên họ bị đẩy đưa từ sự việc này sang sự việc khác. " Lạc thú" có thể sản sinh những cảm thọ thoải mái nhất thời của hạnh phúc phàm thế, nhưng chúng luôn luôn được nối tiếp bằng chán nản, bằng hối tiếc, bằng mong cầu một cảm xúc nào khác nữa, biểu thị một sự vắng bóng của một thỏa mãn thật sự. Những ai thích thú trong Tham, sân, Si hiển nhiên là những kẻ đang nổ lực một cách điên đảo để
hưởng thọ những gì có thể thọ hưởng. Khổ đau đi liền với bất cứ trạng thái tâm thức nào có ba Căn bản trên nhập vào. Không thể mong có được sự thỏa mãn thực sự khi có sự vận hành của ba Căn bản Bất thiện ấy, vì Ba Căn bản này luôn luôn vận hành quanh những gì vốn tự bản chất đã là khổ đau và làm cho những thứ ấy mang tính chất ngược lại với khổ đau.
Thể cách thứ ba của các điên đảo này theo đó các sự vật được xem như là có bản chất thường hằng, hay con người được xem như là có một tự ngã hay linh hồn, là kết quả của việc không nhận thức được thể cách thứ nhất và thể cách thứ hai đã nói ở trên. Ở trong hay ở đằng sau các quá trình vẫn mãi chuyển biến không thể có cái gì bất biến cả. Trước hết, làm sao mà cái vô thường lại có thể liên hệ với cái gì đối nghịch với nó được? Thứ đến, cái thường hằng như thế chưa từng được thấy trong các thế giới được khảo sát bằng Thiền quá hay bằng tất cả mọi ngành khoa học hiện tại. Cho đến các địa hạt vật lý hạt nhân, người ta cũng không tìm thấy bản chất nào bất biến - tất cả đều ở trong sự vận chuyển, trong sự đổi thay liên tục.
Lại nữa, sự thương hằng thật sự cũng sẽ là suối nguồn của sự thỏa mãn lâu dài, nhưng như chúng ta đã thấy, người ta không thể đạt được sự thỏa mãn như thế trong sự tìm kiếm thông thường giữa các sự
vật, nơi chốn và con người, cho nên bảo rằng khổ đau phát sinh từ vô thường thì quả là đúng. Vì không nhận thức được sự vật, v.v. là biến dịch, nên không những chúng ta chỉ điên đảo nghĩ rằng chúng ta không biến dịch ( và thất vọng khi chúng ta lảm nát tan những ước vọng của mình) mà còn từ sự phóng rọi của " cảm giác về cái tôi" trên những sự vật và người ấy mà kết luận rằng nhựng thứ ấy có sự thường bằng ở nội tại. Có một bản chất bất tử hay tự thể ( Nounena). Bởi vì phần lớn người ta không có khả na8g trí tuệ thể nhập vượt qua các biểu hiện bên ngoài và khám phá ra cái thế giới đúng như chính nó, cho nên người ta không lĩnh hội một cách rất thông thường rằng các đối tượng như một chiếc xe Rolls Royce, một đóa hoa cúc hay một ông Mít, hay một con muỗi, hay tôi, hay vũ trụ, hay trái đất này - không phải là một khối những " sự vật đồng nhất" mà thực ra là một tổ hợp của một số điều kiện ( duyên) nối kết với nhau. Suy nghĩ một lát về điều này, các độc giả chấp nhận như thế, nhưng phiền một nỗi là sự chấp nhận của tri thức đối với điên đảo kia, đặc biệt là đối với loại điên đảo này, chắc chắn chưa đủ.
Sau rốt, cái không đáng ưa mà thấy là đẹp. Vì không biết đến tính chất vô thường của sự vật, không thấy được rằng vẻ đẹp hôm nay sẽ héo úa ngày mai, nên ta mới chấp nhận rằng người và sự vật là
đẹp. Vì như cơ thể này, khi đang còn trẻ, da chưa nhăn, có vẻ đẹp mắt khi trông vào. Nhưng nhìn theo cách đó, người ta không chú ý đến hai sự kiện quan trọng. Thứ nhất, không thể tránh khỏi việc cơ thể đang đi dần vào sự suy tàn bệnh tật, già và cuối cùng , cái chết, những trạng thái mà người ta không bao giờ nghĩ là đẹp cả - nhưng do bởi điên đảo này mà người ta quên điều ấy đi; và thêm nữa dù cho bây giờ là cơ thể gồm từng mảnh, từng miếng mà chúng ta có thể biết chúng ở đấy, nhưng chúng ta chưa từng thấy ( ví dụ như phổi và ruột của chính chúng ta), và chắc chắn phần đông người ta không muốn thấy. Da che dấu nhiều thứ mà nếu những thứ này được đặt ra trên bàn trước mắt ta thì rất có thể chúng sẽ làm ta ghê tởm. Song đó là cơ thể đẹp đẽ của chúng ta và cơ thể đẹp đẽ của người khác mà chúng ta bị ràng buộc cũng như thế mả thôi. Đó là ví dụ rõ ràng về cái không đáng yêu mà được xem là đáng yêu. Điều này không có nghĩa là con người và các sự vật trên đời này là xấu xí, và cũng không khẳng định là cái xấu xí là tối hậu ở đời, nhưng nó nêu ra rằng nhận thức thẩm mỹ chân thực là gần với tuệ giác- tức là một nhận thức không bị bóp méo bởi loại điên đảo này. Khi hiểu như thế thì cái không đáng ưa được hiểu là không đáng ưa và sự chấp thủ chúng sẽ được từ bỏ, mặt khác, vẻ đẹp chân thực sẽ được trực nhận mà không bị chướng ngại bởi các suy nghĩ nối kết với dục vọng.