phải xem các đồ vật khác xung quanh là những thứ vay mượn của chư Tăng. Vị ấy chỉ có tám thứ cần thiết: một ngoại y, một thượng y, một hạ y, một bình bát để khất thực, kim chỉ để sửa y áo, một giây để buộc hạ y, một dao cạo và một cái lọc nước để loại côn trùng ra khỏi nước uống để mình và trùng khỏi bị tổn hại.
Về bổn phận của tu sĩ, thì đơn giản nhưng không dễ thực hiện. Vị ấy phải nỗ lực để học rộng và hiểu sâu tất cả những gì Đấng Đạo sư, Bậc Giác ngộ đã dạy; vị ấy phải thực hành Giáo lý, giữ Giới, tăng cường Định và phát triển Tuệ; nhiên hậu vị ấy sẽ chứng ngộ Giáo lý của Đức Phật tùy theo sự thực hành của vị ấy; và sau cùng, tùy thuộc vào khả năng của mình, vị ấy có thể dạy kẻ khác bằng gương mẫu của chính mình, bằng thuyết giảng, bằng viết sách, v.v.
Nương tựa vào Tăng Bảo
Cho đến nay, chúng ta đã nói đến Đoàn thể Tăng già bình thường. Nhưng khi nói đến Nương Tựa vào Tăng già, ta không nên nghĩ rằng đáy là nương tựa vào những vị tu si này vì phần lớn quý vị là Phàm nhân. Tuy nhiên, một số ít là Thánh Tăng đã thực sự chứng Thánh sau khi ngọn lửa của Thắng Tuệ đã đốt cháy các lậu hoặc. Trong hàng cư sĩ cũng có thể có những người là Thánh và những vị này
cùng với các Thánh Tăng làm thành Thánh Đoàn gồm những vị đã giải thoát khỏi trói buộc của mọi cảnh giới, nên thực sụ là nơi Nương tựa an ổn. Sự việc các cư sĩ có thể chứng đắc Thánh quả đủ chứng tỏ rằng Phật giáo là dành cho cư sĩ cũng như Tăng sĩ. Hàng Tăng bảo cũng có nhiều bậc đạo sư nổi tiếng từ các vị đệ tử hân cận của đức Phật, như là các Trưởng lão Tăng Kiều Trần Như, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, A Nan và các Trưởng lão Ni như Maha pàjapàtì, Khemà, Uppalavanna, Dhammadinnà, và nam cư sĩ như Anàthapindika, nữ cư sĩ nổi tiếng như Visàkhà, và dòng kế tục lớn lao của chư vị để tử Chứng ngộ vẫn tiếp nối qua các thời đại cho đến ngày nay. Những ai dã làm nhiều công đức trong quá khứ nếu chân thành muốn tìm học, họ có thể tìm thấy một vị chân sư ở Thái Lan ngày nay.
Dù người ta có thể tìm nơi Nương tựa ở Tăng già bên ngoài, ta nên tìm kiếm nơi Nương tựa thực sự ở bên trong mình. Đây là tích tụ các Thánh Tính (như Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực và Tuệ lưc) là những đức tính mà nếu giữ quân bình và được đào luyện đúng đắn, sẽ đưa người ta đến chỗ trở nên một phần tử của Thánh Đoàn.
Trong kết luận, có thể đề cập đến chuyện ở Thái Lan ngày nay không có chư Ni thọ Cụ túc giới, truyền thống truyền giới như chư Ni đã chấm
dứt ở Tích Lan hơn một ngàn năm trước đây. Tuy truyền thống Ni giới còn tồn tại ỏ Trung Hoa, Việt Nam và Triều Tiên, các vị Ni ở Thái bây giờ là nữ cư sĩ thọ Tám giới mặc y trắng, cạo tóc và hiến mình sống đời sống đạo.
Sau khi trình bày các niềm tin của người Phật tử và cơ sở của niềm tin ấy vào ngôi Tam bảo hay Tam quy, giờ đến lượt phác họa những gì các Phật tử tu tập để chứng ngộ Giáo lý của Bậc Giác ngộ, và do đó xác chứng ràng chính kinh nghiệm của họ, những học thuyết mà họ tin vào buổi đầu.
Một phần tóm lược giáo lý gồm có ba điều như là cái khung sườn của khối giáo lý lớn lao sẽ được dùng để nghiên cứu ở đây: Giới, Định và Tuệ. Đức Phật đã công thức hóa chúng một cách tóm tắt trong bài kệ nổi tiếng ở mọi xứ Phật giáo:
"Không làm các việc ác, (trở về Giới)
Làm các việc lành, (trở về Định)
Giữ tâm ý thanh tịnh; (trở về Tuệ)
Đấy là giáo lý của chư Phật."
Đây gọi là Tam Tu(ba sự tu tập), nhưng vì sự tu tập sau cùng là Tuệ, gồm phàm tuệ và Thánh tuệ, nên người ta chia bốn phần bao gồm phạm vi của Phật giáo (dù xa nội dung đầy đủ): Phàm tuệ, Giới, Định và Thánh tuệ.