Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 32: Các căn bản của giới đức (Trang 166 - 171)

giới quả thực là bước cần thiết đầu tiên để đạt đến mục đích Chứng ngộ tối hậu.

Các căn bản của giới đức
Một thời các triết gia tuyên bố rằng giới đức là một sự không thể có trừ khi nó được Đấng Tạo hóa ban ra trong hình thức các điều răn, vì nếu không có lòng sợ Đấng Tạo dựng hay không có điều răn thì thế nào con người cũng đi đến man dã, trở thành thú vật. Vì Phật giáo nhận thức rằng không có Đấng Tối cao nên không có điều răn nào là từ Đấng ấy cả. Câu hỏi được khỏi lên là tại sao các giới điều được các Phật tử giữ gìn? Sự việc giữ giới luật của họ đã được thấy rõ cụ thể trong đời sông hạnh phúc của nhân dân Thái Lan và của nhiều giới Phật tử khác, một sự kiện gây nhiều cảm xúc ở các người nước ngoài. Hạnh phúc như vậy có được là do sự duy trì một tiêu chuẩn tốt về đạo đức không chỉ trong đời sống này mà còn là kết quả của thiện nghiệp trong các đời quá khứ.
Đạo đức Phật giáo đặt trên nền tảng ba nguyên tắc quan trọng
a. Người ta không thích người khác gây bất cứ loại tổn thương nào cho mình. Những gì chính ta không muốn, không nên gây cho người khác. Đây nguyên tắc nổi tiếng của Bất bạo động. Phá bỏ các
Giới điều nêu trên sẽ dễ dàng nhận thấy rằng hoặc chính mình, hoặc người khác, hoặc cả mình lẫn người khác sẽ đi đến tổn hại. Đạo đức chân chính tùy thuộc vào việc không đem lại tổn hại cho mình cũng như không đem lại tổn hại cho người khác. Khi thực hiện điều này, ta có thể sống hòa điệu với những người xung quanh mình.
Nguyên tắc này đã có một kết quả đặc biệt trong lịch sử Phật giáo. Bất bạo động được nêu gương trong đời sống toàn hảo của Đức Phật và đã được các môn đệ của Ngài giữ gìn cho đến ngày nay. Kết quả là chưa bao giờ có một cuộc Thánh chiến, và cuộc viễn chinh Thập tự hay hành khổ những người khác tôn giáo (không có việc cầm tù, hỏa thiêu, tra tấn đã từng áp đặt lên những người khác tín ngưỡng), đặc biệt hơn nữa cũng không có xảy ra các cuộc chiến tranh giữa các bộ phái Phật giáo. Mọi cuộc xung đột "tôn giáo" như thế, thực sự là hậu quả của những cái tâm còn nặng hận thù, chưa hề được thấy trong Phật pháp. Đức Phật đã dạy các môn đệ của Ngài hãy sống hòa bình với tha nhân, không dùng cả đến vũ khí miệng lưỡi chống lại họ, và nhìn chung, các môn đệ của Ngài vẫn trung thành với những lời dạy của Ngài, quan tâm đến việc nhổ bật Gốc Sân ra khỏi tâm mình hơn là việc trút cơn giận của mình lên những người khác. Ở Thái Lan, truyền thống khoan dung này từ lâu vẫn
được các nhà vua trong nước duy trì. Đặc biệt ta cần đề cập tới một chế độ quân chủ khoảng 300 năm trước - vua Narai, người đã ban hành các lệnh bảo trợ đạo thiên chúa mới du nhập, và thêm nữa, những lời tuyên bố gần đây, của các vị vua triều đại hiện nay, đặc biệt là những lời tuyên bố của vua Mongkut và người con của Ngài là vua Chulalongkorn. Trong tất cả các nước Phật giáo, lịch sử của hòa ái và khoan dung như thế rất nổi bật và các Phật tử thực sự có thể hãnh diện về điều này; đó là kết quả của những lời dạy sáng suốt và những áp dụng mạnh mẽ nguyên tắc Bất Bạo động này.
b. Suối nguồn thứ hai của đạo đức học Phật giáo là Từ bi. Người ta hiểu rằng các chúng sinh là khổ đau và điều thiện phải làm là giúp đỡ họ - chắc chắn không phải là giúp họ phá Giới, điều này sẽ làm cho họ khổ sở hơn. Từ bi của Phật giáo không phải chỉ cảm thông với khổ đau của người khác - một thái độ khá tiêu cực, mà là tích cực nỗ lực để đoạn trừ những khổ đau ấy. Do đó có sự tu tập của Phật giáo, đặc biệt là ở Thái Lan được nhấn mạnh vào Năm Thánh đức, là mặt tích cực của Năm Giới nói trên (vả lại Năm Thánh đức ấy khó mà thực hiện được, khi Năm Giới chưa được thiết lập vững vàng). Năm đức tánh ấy là : lòng Tự ái, lòng Khoan dung, sự Vui lòng, Chân thật, Chánh niệm, tất cả được bàn đến ở phần khác của cuốn sách này.
Từ bi trong Phật giáo vốn liên hệ với Bất bạo động đã loại trừ một khả năng sinh khởi của sự sai lầm kỳ quặc mang tính chất tôn giáo cho rằng "từ bi" là phải chém giết những kẻ khác để đưa họ đến điều tốt tối hậu của chính họ hay sự giải thích.
c. Thứ ba như chúng ta đã đề cập, giới là bước thứ nhất trên đư đường đạo. Không có giới thanh tịnh thì việc tu Định rất nguy hiểm, nếu không thì cũng khó mà tin rằng có nhiều lợi ích được. Nếu không an lập một nền tảng đúng đắn về các vấn đề đạo đức thì không thể chứng ngộ được Thắng tuệ, và Giải thoát. Như vậy sự đạt được đúng mục tiêu của nỗ lực Phật giáo tùy thuộc vào sự cố gắng thể hiện lúc ban đầu để duy trì và tăng cường cái thái độ tình cảm xác nhận rằng đạo đức chân thật tùy thuộc vào sự bất bạo động đối với tự mình và tha nhân.
Ta đã nhấn mạnh rằng hai hoạt động đạo đức này xâm nhập mọi phương diện của đời sống. Giới về ngữ (lời nói) được đảm bảo bằng cách giữ gìn cho Giới thứ bốn không vi phạm, Giới về thân được bảo đảm bằng cách thực hiện ba Giới đầu. Điều còn lại phải lưu ý là Đức phật cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết phải trong sạch  trong nghề nghiệp để sinh sống (chánh mạng). Theo điều đó, điều Ngài tuyên bố rằng điều này có nghĩa là các môn đệ của Ngài cần phải tránh các cách sinh sống liên hệ đến khí giới, buôn
bán các sinh vật sống (như nô lệ, làm tiền bằng mãi dâm cũng như bán các thú vật để phục dịch), liên hệ đến các loại thịt (vì điều này gồm đến việc giết các súc vật), liên hệ đến rượu, ma túy ( vì như trong câu chuyện trên; phá giới này thì cả bốn giới trên điều bị phá), liên hệ đến thuốc độc (khi được bán với mục đích sát sanh). Nếu trên đời này việc kiêng cử những thứ trên được thực hiện tốt đẹp, thì không ai có thể chối cãi rằng cõi đười sẽ là mtooj đất sống nhiều hạnh phúc và an lạc hơn. Các Phật tử chân chính nỗ lực để tạo cho cuộc đời được như thế trong việc thực hành những yêu cầu rất thực tiễn và đạo đức như thế.
Ngoài năm Giới đề cập, cần nêu ngắn gọn vài giới khác. Vào ngày Trăng Tròn, Trăng Non và hai ngày nghỉ việc ở giữa tháng âm lịch, các Phật tử nhiệt thành đi đến các ngôi chùa của họ và tuyên bố là họ muốn giữ thêm các giới khác trong ngày hôm ấy. Đấy là Tám Giới (bát quan trai Giới) được thành lập bằng cách chuyển đổi Giới thứ ba trong Năm Giới (giới dâm thành ra việc "giữ gìn không hành dục" và công thêm Ba Giới nữa: không ăn quá ngọ (cho đến sáng hôm sau), không xem hát, nhảy múa và mọi thứ giải trí, không trang điểm hay xức dầu thơm cho thân mình, không ngủ trên giường êm hay sang trọng. Các giới này thường được các tín đồ giữ trong một ngày, sau đó họ giữ lại Năm giới. Trong
lúc tu tập Tám Giới, họ có dịp sống nơi vắng lặng, thường là ở một tu viện và ở đó họ cống hiến thì giờ cho thiền định, nghiên cứu hay nghe các vị giảng sư dạy, vavs sự việc ấy có lẽ khó thực hiện đối với họ vào những lúc khác. Nếu sự tu tập này được thực hiện liên tục, trình dộ tâm thức nhất định sẽ cao hơn và sự tái sinh có kết quả theo truyền thống sẽ vào hàng chư thiên Dục Giới.
Nghiêm khắc hơn một chút là Mười Giới Sa Di, Tám Giới trước được làm thành Chín Giới bằng cách phân giới không xem hát và trang điểm làm hai Giới. Rồi thêm một Giới khác: không nắm giữ các thứ vàng, bạc. Dĩ nhiên, tiền của cũng kể vào đấy nữa. Các vị Tăng và các vị Sa di nghiêm khắc tu tập thì không để cho mình có dịp nắm giữ tiền bạc. Có được cái kinh nghiệm không có tiền thì thật là hay. Vì khi có tiền bạc thì các ham muốn được thỏa mãn và người ta sẽ khổ đau vì si muội mà cho rằng tiền bạc mua được các thứ ta muốn thì cũng mua được cả hạnh phúc. Khi ta không có tiền, thì ta cần phải trở lui về các thiện xảo của chính mình (vì thiện xảo thì không cung cấp gì cho nhu cầu) để tu tập đức hạnh cao thượng - sự bằng lòng (tri túc). Dĩ nhiên giới điều này dành cho cách sống của một tu sĩ, chứ cư sĩ thì phải tuân giữ.
Vào tuổi 20, một Sa di có thể trở thành một
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »