bị lên án. Cả đến đức Bồ Tát cũng phải không ngừng nghiêm giữ chánh hạnh, như cả các bản kinh về tuệ giác Ba la mật lẫn các mẩu truyện bổn sanh đều nói đến.
Câu chuyện cổ điển soi sáng hạnh Ba la mật này là câu chuyện của Bhuridatta, vị vua thiên long có nhiều quyền pháp. Vào ngày Thọ Giới, phát nguyện thọ Tám giới, ông nằm bên một đụn kiến với hình hài con rắn của ông. Một người bắt rắn thấy hình thù to lớn và vẻ đẹp của ông, đã bắt giữ và hành hạ ông, mặc dù như câu chuyện kể, một cái nhìn của ông cũng biến kẻ thành hạ ông thành tro bụi,ông đã nhận chịu đau đớn và quyết tâm giữ giới thanh tịnh. Long vương Bhuridatta được ghi nhận là một tiền thân của Đức Gotama, đã viên mãn việc tu tập Giới Ba la mật của Ngài như vậy.
Như các trang trước trình bày, dù rất ngắn gọn, trong Phật pháp, sự tua tập về giới gồm có nhiều cách " tu tập" sinh động, không những chỉ đưa đến sự gia tăng hạnh phúc ở đây, mà quan trọng nhiều hơn nữa, dẫn đến sự tu tập thành tựu về Thiền Định mà các trang sách kế tiếp sẽ bàn đến.
Thiền Định: " Sự toàn thiện thiện xảo"
Định nghĩa: Định này như đã được Đức Phật và các hiền giả tu tập theo Ngài, có thể được tóm tắt
rất dễ dàng: " Nhất tâm" ( sự tu tâm vào một điểm) dù rằng phần lớn người ta không có nỗ lực nên không đạt được nhất tâm ấy. Một người bình thường cho rằng thế giới người ấy nhận thức là thế giới độc nhất vì người ấy ít thấy chứng cớ chi để xác nhận ngược lại, trong khi ấy, thiền định nếu được tu tập sẽ chứng tỏ rằng vũ trụ tâm thức lớn hơn rất nhiều so với sự suy nghĩ thông thường. Vậy thì có phải để chứng đắc tri kiến như thế mà các Phật tử tu tập thiền định không? Câu trả lời là không, nếu người ta chờ mong đến Niết bàn. Nhưng một số người không đi trên đường thẳng dẫn đến Niết bàn mà lại chỉ mong sanh thiên. Trong cả hai trường hợp đều cần phải làm lắng dịu tâm thức mải miết lang thang để đoạn trừ các triền cái thô tháo (Dục, Sân, Thùy miên, Hôn trầm, Trạo cử, Nghi). Tâm thức của một người bình thường có thể ví như một cái hồ nước bùn luôn luôn bị gió mạnh làm dao động. Khi người ta đi vào một trạng thái Định và khi các căn rút lui khỏi các đối tượng của chúng ( các trần) thì làn gió dục vọng sẽ lặng yên. Khi điều này xảy ra thì các gợn sóng triều cái ngưng quấy động tâm thức. Tâm thức bây giờ như hồ nước yên tĩnh nhưng vẫn cón có bùn. Tuy nhiên, khi nhân duyên đến, cho người ta cơ hội để phát triển Trí tuệ và Trí tuệ thì giống như một chất liệu làm cho hồ nước sạch sẽ trong suốt để cả đến các vật bé nhỏ nhất ở đáy hồ cũng có thể được
nhìn thấy rõ mồn một. Đấy là một lý do tố hậu khiến người ta tu tập thiền định, vì trí tuệ là chìa khóa đi vào Giác ngộ. (1)
Trước khi một sự định tâm có thể kinh nghiệm có hai triền cái lớn đứng cản đường người tu tập thiền định tựa như khối đá Cylla và cuồng lưu Charybdis (2) cần phải đi vòng quanh chúng một cách cẩn thận. Đấy là hôn trầm, thụy miên, khiến cho
(1) Có lẽ đã đến lúc phải nói đến một số ít ý niệm sai lầm về ý nghĩa của " thiền định" trong Phật giáo.
Thiền định dứt khoát không phải là " không làm gì cả" vì ai thực hành thiền định sẽ thấy điều ấy. Chính vì cái thân của một người không còn lăng xăng và liên hệ đến sự " làm gì đó", cho nên một số người ta tưởng rằng một thiền giả đang tự cho phép mình nhân sự yên tĩnh mà nghỉ hay ngủ một chút. Nếu thực hành thiền định thì người ta sẽ hoàn toàn phá bỏ ngay sự tin tưởng ấy: Một số người khác nghĩ rằng " Thiền định" là sự mơ màng. Trong trạng thái mơ màng, cái tâm trầm xuống và mất tỉnh giác. Các Thiền định, như chúng ta đã nêu ra, được định tính bằng một năng lực được gia tăng mạnh mẽ của tỉnh giác. Một quan niệm phổ thông khác nói về " sự làm trống cái tâm", như thế là không đúng vì cái tâm hoàn toàn thiền định luôn luôn có một đối tượng. Kinh nghiệm thiền định là một cái gì rất trác tuyệt và hoàn toàn không dính dự đến sự buồn chán xám xịt. Có học giả " giải thích" thiền định Phật giáo là sự tự thôi miên. Chẳng cần phải nói, hẳn nhiên vị học giả ấy chưa bao giờ thực hành thiền định. Các trạng thái thôi miên, cùng với các mộng tưởng, đều rõ ràng không có tỉnh giác. Hợp lý hơn có người nghĩ rằng thiền định giống như sự cầu tìm lý luận. Dù trong tu tập Phật giáo có những thiền định lý luận, nhưng thiền định chân chính thì nhằm loại trừ chứ không khuyến khích cái dòng ngôn từ chảy qua tâm thức. Nếu cần bàn điều này cho sâu hơn khi xem " Growing the Bodhi" trong " Visaka Pùjà 2509" và các sách để đọc thêm ở cuối sách này.
(2) Ở tại eo biển Messina thuộc Địa Trung Hải, là hai chướng ngại vật gây đắm tàu; được dùng theo thành ngữ để chỉ sự nguy hiểm, chỉ sự việc tránh điều nguy này lại gặp điều khác, có thể còn nguy hơn nữa. (người dịch).