Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 13: Nghiệp và nghiệp quả (Trang 57 - 63)

Tứ đế này xây dựng trên Chánh Kiến và khi người nào có một hiểu biết rõ ràng về Tứ Đế bằng tri thức, thì người ấy được gọi là " có những quan điểm đúng đắn". Điều đó có nghĩa là người ta sẽ không còn cho phép tâm mình đi lang thang trong thế giới của lý luận vô ích nữa mà đặt tâm mình đối mặt với kinh nghiệm thực sự (khổ đau) mà gây nên một sự từ bỏ cái nguyên nhân (khát ái) bằng cách Tu tập theo Trung Đạo để đạt đến sự diệt khổ (Niết Bàn).
Như thế, người ta có thể tránh được nhiều nỗi khổ được kinh nghiệm  trên đời này một cách rất dễ dàng nếu người ta chỉ cần nhận thức được một sự kiện đơn giản là: các hành động đều có những kết quả tương ứng với chúng.
Nghiệp và nghiệp quả
Hành động hay Nghiệp ( Kamma) là những gì mà người ta thực hiện một cách cố ý bằng thân, nói năng bằng lời, suy nghĩ bằng ý ( thân, khẩu, ý). Lại nữa sự tác ý là xấu, là tốt hay bất định tính ( thiện, ác hay vô ký). " Xấu", ở đây có nghĩa là hạ thấp tâm thức mình, gây hại cho các chúng sanh khác và do đó gọi là bất thiện. " Tốt", có nghĩa là những hành động đưa đến sự Phật tử tâm thức hay là sự Phật tử hạnh phúc của các chúng sanh khác và do đó gọi là thiện, Những hành động bất định tính (Vô
ký) là những hành động không tốt mà cũng không xấu. Phật tử thường tránh dùng các từ " Xấu", " Tốt" mà thích thay thế bằng cách gọi là hành động thiện và bất thiện. Từ đây trở đi chúng ta cũng gọi như thế.
Để mở rộng thêm một ít về các loại trên, chúng ta quan tâm đến hành động các hành động của ý trong ba loại hành động của thân, khẩu và ý vì hành động thuộc ý là căn bản cho hành động thuộc thân và thuộc khẩu. Hành động có tác ý và không tác ý là rất  quan trọng trong việc tu tập của Phật giáo. Những hành động có ý muốn có cân nhắc kèm theo với ý chí (Karma, Kamma) có khả năng sản sinh nghiệp quả trong tương lai. Những hành động khác không tác ý hay không cùng đi với ý không đem lại nghiệp quả tương lai. Ví dụ: một con muỗi đậu trên cánh tay một người và người ấy không thích loại côn trùng đó, đưa tay lên giết nó, như thế là hành động cố ý, mang nghiệp quả. Nhưng một người nằm xuống và vô ý đè bẹp một con muỗi trên gối, người ấy đã làm không tác ý, như vậy là hành động không có nghiệp quả trong tương lai. Những gì vừa nói ở đây về sự sát hại cũng áp dụng cho cả những hành động có hại và cả có lợi. Như thế người có chủ tâm tôn kính Đức Phật có thể mong có kết quả của hành động ấy, trong khi ấy, một cậu bé bắt chước việc làm của người ấy mà không biết ý nghĩa của các hành động
đó, và vì không làm với chủ tâm nên sẽ không có nghiệp quả nào vì hành động đó.
Về các nghiệp quả, người ta có thể đoán trước rằng: " Nếu bây giờ hạt giống bất thiện được gieo thì sự gặt hái những quả khổ đau sẽ đưa đến trong tương lai, và ngược lại những hành động thiện sản sinh ra những nghiệp quả lạc thú, hạnh phúc. Đúng như Đức Jesus đã dạy: " Con người gieo cái gì thì gặt cái đó". Từ hạt gai ta không nên mong chờ gặt hái những quả táo tốt. Như vậy, những gì do nghiệp khởi sinh trong hiện tại rất quan trọng; vì hạnh phúc hay thống khổ của chúng ta trong tương lai, phần lớn tùy thuộc vào hiện tại của chúng ta. Một người quyết định chỉ tích lũy của cải ngày càng nhiều mà không để ý đến kẻ khác phải thế nào thì ngay trong hiện tại người ấy phát triển sự keo kiệt ở trong tâm và cái bề ngoài chấp thủ của anh ta thường phản ánh tính ấy. Một người khác chân thành quan tâm đến sự tìm cầu tôn giáo cũng sẽ phát triển cái tâm và những đặc điểm bên ngoài sẽ phản ánh sự quan tâm đặc biệt đó. Như thế, chúng ta phải luôn luôn để ý xem tâm ta theo đuổi những vấn đề thiện hay bất thiện, vì ngay trong đời sống hiện tại, người ta cũng có thể gặp những kết quả của nghiệp. Vì vậy mà khởi lên biết bao khác biệt giữa các chúng sanh ở trong cuộc đời. Những sự bất bình đẳng ( của những sức mạnh hiện thực và đang trong khả năng) quá rõ ràng,
không cần thiết phải thảo luận thêm, đang hiện hữu trong nhân loại, người giàu, người nghèo, người khôn, người dại, người trí, người ngu và rất nhiều hạng người nữa. Những sự bất bình đẳng ở con người đã nhiều như thế, còn nói chi đến sự bất bình đẳng của loài vật? Nghiệp và nghiệp quả vận hành qua ba thời, quá khứ, hiện tại và vị lai giải thích rõ những sai biệt ấy.
Nghiệp quả có nhiều loại đối với khoảng thời gian ở giữa. Sự mang lấy nghiệp tạo ra nghiệp quả  và sự thành quả của chúng. Một số nghiệp có kết quả tức thời và mối liên hệ nhân quả có thể nhận ra ngay. Những nghiệp quả khác, sau một thời gian mới thành và khó nhận ra mối liên hệ ấy. Tuy nhiên, có nhiều loại nghiệp khác không có quả trong đời sống này mà có kết quả ở đời sống tiếp theo hay trong những đời sống xa xăm về sau nữa. Những nghiệp quả này là khó hiểu nhất và quả thực, nếu cái năng lực nhớ lại cái tiền kiếp nhờ thực hành tiền định mà không phát triển thì một thường nhân không có cách nào hiểu được những sự việc mà anh tacho là ngẫu nhiên may rủi khi anh ta không thể giải thích được chúng, hoặc anh gán cho là " ý của Thượng đế" khi anh cố giải thích mà không được.
Nghiệp và nghiệp quả không phải là giáo điều của phật giáo mà là cái gì thiết thực có thể hiểu được trong đời sống riêng của mỗi người ( và cũng
hiểu được một phần nào đời sống của người khác). Tại sao hành động có tác ý sinh ra nghiệp quả? Ở hành động tác ý, có sự tiêu phí nhiều năng lực hơn ở hành động không tác ý. Năng lực ấy có thể gọi là "năng lực ý chí" (ý lực) dù nó không phải là thuật ngữ phật học. Trong các khoa học vật lý ta biết rõ rằng các năng lực bị tiêu phí thì sản sinh một hiệu lực nào đó. Do sự tiêu phí của ý lực, một sự kiện kết quả sẽ phải khởi lên vào một thời gian nào đó sau nghiệp nhân, tùy thuộc vào sự có mặt hay không có mặt của các duyên giúp vào hay làm chập đi cái kết quả của nghiệp ấy. Biểu thức được dùng thay cho nhân quả là: "X" hay hiện hữu thì "Y" sinh khởi, "X" không hiện hữu thì "Y" không sinh khởi. Người ta nói nghiệp "Xông ướp" sự tương tục của tâm thức, để lại một dấu vết hay một khuôn mẫu trong tâm thức mà ở đó những khuôn mẫu tạo tác và các khuynh hướng đặc thù được hình thành do các phản ứng đã thành thói quen. Đây là sự hình thành của các yếu tố chủ động nhân duyên mà được sinh ra trong đời sống quá khứ thì chúng ta trở thành "tiềm thức" một cách mạnh mẽ trong đời này và khi được sinh ra trong đời này thì chúng trở thành khuôn mẫu cho tương lai.
Dòng những sự kiện tương quan ấy tiếp tục chảy qua ba thời: những hành động quá khứ ảnh hưởng (duyên sinh) hoặc nhiều hoặc ít đến tính tình và hoàn cảnh hiện tại. Nếu quá khứ của một người ảnh
hưởng mạnh đến đời sống hiện tại thì ngay trong hiện tại, khả năng chọn lựa của người ấy bị giới hạn. Nếu người ấy thoát ly được ảnh hưởng của quá khứ thì người ấy có nhiều tự do chọn lựa hơn (1)
Một vị Thánh thiện xảo về Giới, Định Tuệ thì giải thoát khỏi ảnh hưởng của quá khứ và mặc dầu vị ấy có thể vẫn còn thu nhận những kết quả của nghiệp quá khứ, sự lựa chọn của vị ấy trong hiện tại thì vô giới hạn. Nhưng một sự việc cần ghi nhớ là hầu hết còn người đều bị chao đảo nhiều hay ít trong lựa chọn của mình, vì những hành động do ý muốn trong hiện tại ảnh hưởng đến kiếp sống tương lai. Như vậy, trách nhiệm đạo đức được thiết lập một cách vững chắc trong giáo lý của Phật, ở đó người ta tu tập biết rằng:

 

(1) Đôi khi người ta bảo Phật giáo là" Tất định luận" (fatalism). Như thế quả là sai sự thật hết sức. Qủa thực là chúng ta phải kinh nghiệm kết quả của nghiệp trong quá khứ là thứ chắc chắn giới hạn và ảnh hưởng sự lựa chọn của chúng ta trong hiện tại. Nhưng, chính trong hiện tại, khi chúng ta thực hiện những quyết định, hoặc thiện, hoặc không thiện, và khi phải bắt gặp sự việc, thay vì để cho chúng chế ngự chúng ta, chúng ta có thể quyết định uống nắn chúng ta theo cách này hay cách khác. Đời sống tôn giáo trong Phật giáo không phải là đời sống để ngồi đó mà cam chịu bất cứ điều gì xảy ra. Ở đây không có chỗ để bàn các khái niệm về số phận, tất mệnh hay định mệnh . Đức Phật đã nhiều lần khuyên các đệ tử của Ngài hãy cố gắng, nỗ lực tinh cần và điều này chỉ có thể được thực hiện trong lúc hiện tại. Theo cách ấy, Phật giáo tách xa hẳn hai cực đoan của khai niệm tất mệnh luận và tự do ý chí, rõ ràng chỉ được chấp nhận trong một ý nghĩa giới hạn đối với tâm lý học hiện đại.
" Ta là chủ nhân của nghiệp ( của ta), là người thừa kế của nghiệp, được sinh ra do nghiệp, bị trói buộc bởi nghiệp và được xây dựng trên nghiệp. Bất cứ nghiệp gì ta đã làm, thiện hay ác, ta sẽ là kẻ thừa kế của nó ( mà nhận lấy những kết quả)".
Độc giả cần lưu ý rằng lời giải thích này không đề cập đến " tội lỗi", một khái niệm xa lạ với tư tưởng Phật giáo. Một Phật tử phá giới( xem II, giới), biết rằng mình có lẽ sẽ chịu đựng những kết quả tùy theo các hành động của mình và thế nên người Phật tử thọ giới lại bằng cách nhận giới từ một tu sĩ (nếu vị tu sĩ phá giới của mình thì vị ấy làm thanh tịnh mình bằng sám hối, bằng quyết tâm và tiếp đó là sự thanh tịnh) với quyết tâm nỗ lực giữ giới trong tương lai. Người Phật tử ấy không bị đè nặng bởi gánh nặng tội lỗi, cái gắng nặng tội lỗi ấy được nghĩ đến như là một thái độ tâm lý bất thiện sản sinh ra khổ đau trong tương lai. Sự phán xét, trong tu tưởng Phật giáo, do đó không phải ở một cảnh giới tương lai nào đó mà chính ở trong hiện tại khi người ta thọ nhận kết quả của nghiệp quá khứ. Sau cùng, trong khi Đức Phật không chủ trương chuộc lại những tội lỗi cho đời, người ta nhận thức rằng có nhiều hành vi sai lạc thường sản sinh ra những kết quả khổ đau, nhưng người có thể làm cho chúng nhẹ bớt nếu không tránh khỏi, bằng lòng nhiệt thành tu tập theo con đường của Đức Phật. Ở đây, đạo Phật nhận thức
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »