Đây cũng là ý nghĩa thọ ký xảy ra giữa hai Thế Tôn: Thọ ký là một sự xác nhận đích thực không có gì để trao hay để nhận.
Do hiểu được nghĩa này, Tôn giả Tu-bồ-đề đã bạch như trên.
THE BODHISATTVA AND HIS PURE LAND
10b. The Lord said: If any Bodhisattva would say, “I will create harmonious Buddhafields”, he would speak falsely. And vvhy? The harmonies of Buddhafields, Subhuti, as no- harmonies have they been taught by the Tathagata, therefore he spoke of “harmonious Buddhafields”.
BỒ TÁT VÀ CÕI PHẬT
(cõi nước thanh tịnh)
10b. Đức Phật dạy: Nếu có vị Bồ-tát nói “Ta sẽ tạo ra những cõi Phật trang nghiêm” thì vị ấy nói sai. Tại sao? “Này Tu-bồ-đề, các sự trang nghiêm của cõi Phật, từng được Như Lai dạy không phải là trang nghiêm, cho nên Như Lai nói “các cõi Phật trang nghiêm”
(ghi chú: Harmonious có nghĩa là accomplished, nchieved, perfect, ripen, mature là nghĩa của từ Sanskrit: Nispadayati, ở đây có thể dịch là trang nghiêm, như ở Hán bản).
thủ. Từ đây, Thế Tôn dạy, do vì “trang nghiêm cõi Phật” thoát ly nghĩa tác thành của duyên sinh (y tha khởi) nên Thế Tôn mới nói là “trang nghiêm cõi Phật”. Đây là ý nghĩa của viên thành thật tánh của Duy thức luận.
2. Qua sự chỉ bày thật nghĩa của bố thí, của chứng đắc, của thọ ký, của trang nghiêm cõi Phật, Thế Tôn đã phơi bày cảnh giới của Bát-nhã. Những ai không còn vướng mắc vào các chấp tướng thì có thể trực nhận ngay thực thể của Bát-nhã bất khả tư nghì ấy từ mỗi sự chỉ bày của Thế Tôn.
3. Đặc biệt, xuyên qua sự chỉ bày này, Kinh Kim Cương luôn luôn làm nổi bật hẳn trong từng đoạn Kinh cái sắc thái đặc biệt của Phật giáo rằng: Vấn đề hiểu rõ, thấy rõ thực tướng, thực tánh của các pháp là vấn đề đoạn trừ ái, thủ, mà không phải là vấn đề thuần lý của hiểu biết qua khái niệm. Cần phải tu tập đoạn trừ ái, thủ mới có thể trực nhận thực tại như thực. Những lời dạy của Thế Tôn về thực tại như thật dù có sắc bén tinh tế đến đâu cũng chỉ có tác dụng đánh thức tuệ giác trong thính chúng, hay chỉ giúp thính chúng định lại hướng nhìn, tư duy của mình.
Sự thật của vô ngã tướng là sự rơi rụng của các tưởng về ngã tướng, sự rơi rụng các chấp thủ ngã tướng từ nơi cái nhìn của thính chúng.