Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 5: Hạnh Nguyện Bồ Tát (Trang 19 - 22)

notion of a self or of a being should take place, or the notion of a living soul or of a person.
 
HẠNH NGUYỆN BỒ TÁT
 
3. Đức Phật dạy: “Ở đây, này Tu-bồ-đề, nếu có người phát tâm Bồ-tát cầu quả vị Phật, nên khởi tâm như thế này: “Trong thế giới này, có bao nhiêu chúng sinh - loài sinh từ trứng, loài sinh từ thai, loài sinh từ chỗ ẩm thấp, loài hóa sinh, có hình tướng hay không hình tướng, có tưởng hay không có tưởng. Phải dẫn dắt tất cả đến Niết-bàn, vào Niết-bàn, cảnh giới không để lại gì ở đằng sau (Vô dư y Niết-bàn). Và dù có vô số chúng sinh được dẫn dắt đến Niết-bàn như thế, vẫn không có chúng sinh nào thật sự được dẫn dắt đến Niết-bàn. Tại sao? Nếu trong vị Bồ-tát có tưởng chúng sinh khởi lên, vị ấy không thể được gọi là Bồ-tát, vị ấy còn vướng mắc vào tưởng tự ngã, tưởng chúng sinh, tưởng linh hồn, hay tưởng con người”.
Lời bàn:
 Nếu không thể hiểu bài pháp về thực tướng Bát-nhã qua thân giáo của Thế Tôn, thì ở đoạn Kinh này thính chúng có thể nhận ra được thực tướng ấy.
 Con đường đi vào thực tướng thì một mặt phát khởi đại bi tâm cứu độ vô lượng chúng sinh, một mặt rời khỏi hết thảy các tưởng về ngã tướng.
 Chúng sinh vốn do các duyên mà sinh, nên không thật. Chúng sinh đã không thật có, thì làm gì có chúng sanh được độ?
 Nếu chúng sanh vốn không thật có thì tại sao Bồ-tát lại làm cái việc phát tâm cứu độ đối tượng không thực ấy?
 Như đã được đề cập từ đầu sách, đoạn trên là một hình thức diễn đạt đặc biệt của Bát-nhã. Chúng ta tuần tự phân tích lời dạy trên qua các điểm dưới đây:
   1. Thế Tôn dạy Bồ-tát phát tâm độ vô lượng chúng sanh là nhằm để phá ngay trung tâm gây nên dao động, bất an, của thính chúng. Thính chúng đang lo âu về hạnh nguyện làm thế nào có thể độ hết chúng sinh để tròn quả Phật?
 Lo âu đó dấy khởi từ tâm chấp thủ tướng cho rằng có vô lượng chúng sanh, có việc cứu độ và tự thân phải lo cứu độ. Tâm chấp thủ tướng ấy trải rộng ra vô cùng, khắp thời gian và không gian vô tận, khiến tâm lý dao động nhiều. Thoạt đầu Bồ-tát phát khởi tâm đại bi để dập tắt tham ái, sân hận và chấp thủ, nhưng rồi Bồ-tát lại vướng mắc vào tư duy ngã tính. Do đó, Thế Tôn dạy Bồ-tát, cần giác tỉnh ngay liền sau đó: Các ngã tướng, ngã tính là phi thực.
  2. Thấy tính phi thực của ngã tướng thì các chấp thủ rơi đổ cùng với tâm lý dao động. Làm đổ
tâm lý dao động ấy là ý nghĩa hang phục tâm. Khi sự bất an tan mất, thì tâm được an trú, đây là ý nghĩa của an trụ tâm.
  1. Chúng sinh mang thân tướng chúng sinh là do nghiệp nhìn các pháp có ngã tướng mà ra. Bồ-tát phải là vị chứng đắc vô ngã mới có khả năng để dẫn dắt chúng sinh rời khỏi ngã chấp đi đến Niết-bàn. Nếu Bồ-tát thấy có chúng sinh được độ tức là rơi vào các ngã tưởng, và do đó thiếu khả năng độ sinh; Bồ-tát bấy giờ không còn được gọi là Bồ-tát.
  2. Bồ-tát đi ra khỏi chấp thủ trong từng niệm là đi ra khỏi tâm lý dao động, tâm được an trụ. Như thế, trú tâm vào niệm không chấp thủ là ý nghĩa thực, của an trú và hàng phục tâm.
  3. Lời dạy “Phát tâm độ vô lượng chúng sinh” mà “thực ra thấy không có chúng sinh nào được độ”..., là lời dạy về việc làm của một Bồ-tát gồm có hai phần:
a/ Độ chúng sanh - độ tha.
b/ Thấy không có chúng sinh nào được độ: Giác tỉnh vô ngã, đi vào trí tuệ vô ngã tự độ.
  1. Bốn tưởng được đề cập ở đoạn Kinh trên có ý nghĩa khác với bốn tưởng được đề cập ở Hán bản. Theo ghi chú ở bản dịch tiếng Anh, thì:
a/ Tưởng tự ngã: Tin rằng có một tự ngã ở ngoài năm thủ uẩn, một cái ngã được định nghĩa
như điều mà chúng ta có thể nói, “cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi”.
b/ Tưởng con người: Tin tưởng có một cá thể độc lập, liên tục và đồng nhất với chính nó ở các thời điểm khác nhau ; cá thể đó phân biệt kiên cố các phần tử ở trong cá thể khác biệt với những gì ở bên ngoài cá thể.
c/ Tưởng linh hồn: Tin tưởng có mặt một sức mạnh hợp nhất và sinh động ở bên trong thân căn, nó tồn tại từ bào thai cho đến chết, qua thời gian của kiếp sống.
d/ Tưởng chúng sinh: Tin tưởng có mặt một thực thể thường hằng chuyển sinh từ đời sống này sang đời sống khác.
7.  Liền khi Thế Tôn vừa dạy phương pháp hàng phục tâm, một số vị Tỷ-kheo trở nên băn khoăn về hạnh nguyện chính của Bồ-tát (tức là Bố thí):
 Nếu ngã tướng không thật, thì ai sẽ bố thí? Ai sẽ nhận thí? Và làm sao để có vật thí để thí?
 Thấy suốt niềm băn khoăn ấy, Thế Tôn dạy tiếp:
 
THE PRACITCE OF THE PERFECTIONS
 
 4. Moreover, Subhuti, a Bodhisattva who gives a gives should not be supported by a thing, nor should he be supported anywhere. When he gives gifts he should not be supported by sight-objects, nor by sounds, smells, tastes, touchables, or
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »