Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 21: Công Đức Nhận Được, Sự Giả Định Và Kết Quả Của Công Đức (Trang 93 - 100)

calculable aeons, I gave satisfaction by loyal service to 84.000 million milliards of Buddhas, without over becoming estranged from them. But the heap of merit, Subhuti, the satisfaction I gave to those Buddhas and Lords without again becoming estranged from them compared with the heap of merit of those, who in the last time, the last epoch, the last five hundred years, at the time of the collapse of the good doctrince, will take up these very Sutras, bear them in mind, recite and study them, and will illuminate them in full detail for others, it does not approach one hundredth part, not one thousandth part, nor a one hundred thousandth part, not a ten millionth part, nor a one hundred millionth part, nor a 100.000 millionth part. It does not bear number, nor fraction, nor counting, nor similarity, nor comparison, nor resemblance.
16c. If moreover, Subhuti, I were to teach the heap of merit of those sons and daughters of good family, and how great a heap of merit they will at that time beget and acquire, beings would become frantic and confused. Since, however, Subhuti, the Tathagata has taught this discourse on Dharma as unthinkable, so just an unthinkable karma-result should be expected from it.
 
CÔNG ĐỨC NHẬN ĐƯỢC, SỰ GIẢ ĐỊNH VÀ
KẾT QUẢ CỦA CÔNG ĐỨC
 
14h. Này Tu-bồ-đề, trong tương lai thiện nam, tín nữ nào hiểu được Kinh này, thọ trì, đọc tụng,
học hỏi và giảng nói cho những người khác nghe, này Tu-bồ-đề, Như Lai với Phật trí biết rõ những người ấy, với Phật nhãn Như Lai thấy rõ những người ấy, Như Lai biết rất rõ những người ấy. Này Tu-bồ-đề, những người ấy sẽ được công đức nhiều không thể lường, không thể tính.
 15a. Và nếu, Tu-bồ-đề, thiện nam, tín nữ nào vào buổi sáng bố thí thân mạng mình nhiều như số cát của sông Hằng, vào buổi trưa và buổi chiều, tương tự bố thí thân mạng mình nhiều như số cát sông Hằng, bố thí như thế qua hàng trăm nghìn triệu tỷ kiếp; nếu một người khác khi nghe Kinh này, không chối từ Kinh, thì người này sẽ được phước đức nhiều hơn, không thể lường tính được. Huống nữa là người biên chép, học, thọ trì, đọc tụng, nghiên cứu và giảng giải Kinh cho những người khác nghe.
15b. Hơn nữa, này Tu-bồ-đề, Kinh này không thể so sánh, không thể nghĩ bàn được. Như Lai đã giảng dạy vì hạnh phúc cho những ai phát tâm lớn, phát tâm tối thượng thừa. Những ai trong tương lai hiểu được Kinh này, thọ trì, đọc tụng, nghiên cứu và giảng dạy cho những người khác nghe, Như Lai với Phật trí đã biết rõ họ, với Phật nhãn đã thấy họ, Như Lai đã biết rõ họ. Này Tu-bồ-đề, tất cả những người ấy sẽ được phước đức nhiều không thể nghĩ bàn, không thể so sánh, vô lượng vô biên. Này
Tu-bồ-đề, những người ấy sẽ chuyên chở được, truyền được đạo giác ngộ. Tại sao? Bởi vì, này Tu-bồ đề, không thể có được trường hợp những người với tâm nguyện thấp hơn có thể nghe được Kinh này, cũng không thể có được trường hợp những người có cái nhìn hữu ngã, chúng sinh ngã, linh hồn ngã, hay nhơn ngã có thể nghe được Kinh này. Cũng không thể có được trường hợp những người không phát tâm Bồ-đề có thể nghe Kinh này hay hiểu nghĩa, thọ trì, đọc tụng, nghiên cứu Kinh này. Trường hợp ấy không thể xảy ra.
 15c. Thêm nữa, này Tu-bồ-đề, ở đời nơi nào có Kinh này, nơi đó đáng được toàn thể thế gian với chư Thiên, loài Người và A-tu-la tôn thờ, lễ bái, tôn kính, đáng được nhiễu quanh như là tháp điện.
 16a. Nhưng, này Tu-bồ-đề, những thiện nam, tín nữ trong tương lai hiểu được chính xác Kinh này, thọ trì, đọc tụng và nghiên cứu, những người ấy bị khinh khi, khinh khi nhiều. Tại sao? Các ác nghiệp mà những người này đã tạo ra trong các đời trước có thể đưa họ vào các khổ xứ, địa ngục - nhưng trong chính cuộc đời này do bị khinh rẻ mà các tội nghiệp ấy bị tiêu diệt, và trong tương lai họ thành Phật.
 16b. Này Tu-bồ-đề, với thắng trí của Như Lai, Như Lai nhớ lại trong quá khứ, trước đời Phật Nhiên
Đăng, đức Như Lai, bậc A-la-hán, Toàn Giác, vô lượng kiếp Như Lai (Ta) đã phụng sự, cúng dường 84.000 triệu tỷ đức Phật, không có xa lánh. Nhưng này Tu-bồ-đề, công đức cúng dường ấy của Ta so với công đức của những người trong thời 500 năm sau cùng của thời Chánh pháp suy yếu hiểu được Kinh này, thọ trì, đọc tụng, nghiên cứu và diễn giảng cho những người khác nghe, công đức của Ta không bằng 1/100, 1/1000, 1/100.000, 1/10.000.000, 1/100.000.000, không có so sánh được (vì quá nhỏ).
16c. Thêm nữa, này Tu-bồ-đề, nếu Ta nói công đức của các thiện nam, tín nữ ấy trong tương lai sẽ gặt được phước đức rất nhiều thì nhiều người sẽ trở nên điên rồ rối loạn. Tuy nhiên, này Tu-bồ-đề vì Như Lai đã dạy Kinh này không thể nghĩ bàn, nên kết quả của nghiệp cũng không thể nghĩ bàn.
Lời bàn:
 1. Đây là lần thứ mười Thế Tôn tán thán giáo lý Kinh Kim Cương và công đức vô lượng của người hiểu Kinh, nghiên cứu, học hỏi Kinh, biên chép, thọ trì, đọc tụng và giảng nói Kinh.
 Nếu tâm vô trú là chỗ chứng ngộ của đức Phật, hay gọi tâm vô trú là tâm Phật, thì như vậy, tâm của Như Lai, tâm của mỗi vị trong thính chúng, và tâm của chúng sanh là khác nhau hay không khác gì nhau? - Một số vị khởi niệm nghi như thế. Thế
Tôn, do đó đã dạy các đoạn Kinh trên để giải tỏa mối nghi ấy.
 2. Những hình ảnh bố thí tài vật (ngoại và thân mạng (nội tài) ở Kim Cương cần được là giả định để nói lên lý Bát-nhã, mà không có thực trên thực tế. Lối văn sử dụng “điều kiện cách” ở đó nói rõ điều đó.
3. Về công đức của người hiểu Kinh, trì Kinh và giảng Kinh..., Thế Tôn xác nhận là sự thật được Thế Tôn thấy biết qua Phật nhãn và Phật trí.
Do vì hiểu Kinh... là hiểu rõ vô tướng của các pháp; hiểu vô ngã tướng là hiểu vô thường tướng và khổ tướng; do vì thấy rõ vô ngã, vô thường và khổ đau mà tham ái và chấp thủ được buông xả. Nhờ vậy, hành giả đi dần vào trí tuệ giải thoát, đoạn hết lậu hoặc, đắc Niết-bàn. Đó là ý nghĩa phước đức tối thượng, vô lượng vô biên. Thế Tôn ca ngợi phước đức trên chính là ca ngợi giải thoát và công đức giải thoát.
Cho nên, ca ngợi Bát-nhã là ca ngợi con đường giải thoát của Phật giáo truyền thống hay chính là ca ngợi đạo Phật: Đạo chỉ bày thực tại vô ngã và con đường thể nhập thực tại vô ngã ấy.
3. Bát-nhã là giáo lý bàn cặn kẽ về tuệ uẩn, nên chỉ nói cho những ai có căn trí cao và có chí cầu giải thoát, tương đối đã có một căn bản tu tập về Giới và Định. Với những người chưa hiểu đạo
hay mới bước vào ngưỡng cửa Phật giáo thì không nên giới thiệu giáo lý này. Quan điểm này của Kim Cương rất phù hợp với thái độ giảng dạy của Thế Tôn qua Nikàya  . Theo Nikàya, Thế Tôn thường chỉ dạy về Giới và Bố thí hữu tướng cho những người mới quy hướng Thế Tôn và cho những người căn trí kém. Một thời gian sau đó, Thế Tôn mới dạy tiếp cho họ về Tứ đế.
 5. Qua các đoạn Kinh trên (từ 14h đến 16c), Kim Cương định nghĩa cái mà Hán bản gọi là căn trí Đại thừa như là căn trí có thể hiểu Bát-nhã và phát tâm cầu giải thoát mọi chấp thủ, và cái mà Hán bản gọi là căn trí Tiểu thừa, Thinh Văn như là căn trí của những ai chấp thủ tự ngã của các Pháp.
 Ý nghĩa của Đại thừa và Tiểu thừa ở Kinh Kim Cương là thế. Tiểu thừa ở đây thì khác với bốn quả Thánh ở Nikàya.
6. Lời tán thán công đức của người hiểu, đọc tụng, nghiên cứu, giảng giải của Kinh Kim Cương còn nói lên một sắc thái vừa rất đặc biệt của Bát-nhã, vừa rất là truyền thống Phật giáo: Đó là ý nghĩa của sự trở về nương tựa Pháp và nương tựa chính mình. Tiếng nói rất nhân bản và thiết thực hiện tại này có thể lay tỉnh những ai còn mơ màng cho rằng Kinh Kim Cương thiên về lý luận, rời xa giáo lý truyền thống. Chúng ta có thể trưng dẫn hai ví dụ điển hình:
a/ Thế Tôn đã đánh giá cao việc một người tự mình học hiểu, giảng nói và tu tập các tưởng vô ngã, đoạn trừ các ngã tưởng, cao hơn cả việc tiền thân Thế Tôn đã trải qua nhiều kiếp phụng sự, cúng dường, hầu hạ 84.000 triệu tỷ đức Phật.
b/ Nơi nào có người học hiểu, đọc tụng, nghiên cứu và giảng nói Kinh này thì phải xem đó như là “điện tháp”, hoặc có mặt Thế Tôn hoặc đại đệ tử của Thế Tôn, đáng được toàn thể thế gian với chư Thiên, loài Người và A-tu-la cung kính, lễ bái, cúng dường.
 Đấy là ý nghĩa của: Việc trở về nương tựa mình và nương tựa pháp giải thoát được xem là việc tôn kính Phật, và đại đệ tử của Phật có ý nghĩa nhất.
 6. Cái ý nghĩa gọi là “hành thâm Bát-nhã” đúng là ý nghĩa rời xa các ngã tưởng mà trú niệm trên vô ngã tưởng. Nói trú niệm trên vô ngã tưởng cũng cùng nghĩa với trú niệm trên vô thường tưởng và khổ tưởng để đoạn diệt tham ái, chấp thủ và vô minh.
 Đây lại là một điểm giáo lý rất truyền thống, được lặp lại nhiều lần ở Nikàya và A Hàm (sẽ được trình bày rõ ở chương III).
 7. Dòng cuối của đoạn Kinh trên nói rằng: “Sự ca ngợi công đức của người học hiểu, đọc tụng... giảng nói” như trên có thể khiến cho nhiều người trở nên cuồng tâm và rối loạn. Điểm này cũng phản
ảnh những gì có thực đã xảy ra lúc Thế Tôn còn tại thế và đã được ghi lại ở Nikàya.
 Trong một thời pháp về “Vô ngã” của Thế Tôn, có Tỷ-kheo không chấp nhận và hoàn tục, có Tỷ-kheo tức bực đến trào huyết ra ở miệng. Thế Tôn cũng thường xác nhận pháp mà Thế Tôn chứng ngộ thì tế nhị, khó thấy, khó hiểu, chỉ có kẻ trí mới có thể lãnh hội... (Nikàya). Vì thế mà Ngài đã lưỡng lự muốn nhập vô dư y Niết-bàn trước khi chuyển bánh xe Pháp.
 8. Thực tại vô ngã như đã được bàn đến chỉ được thể nhập bằng tâm không trú tưởng. Bất cứ ai có tâm không trú tưởng đều có thể chứng ngộ thực tại như Thế Tôn đã chứng ngộ.
 Ở trong thực tại như thực này, tâm chứng ngộ, quả chứng và thực tại là một, không có khác biệt. Do đó mà tâm vô trú của Thế Tôn và tâm vô trú của chúng sanh không thể khác biệt. Nếu rời khỏi hoàn toàn chấp thủ tướng, thì Tâm Phật và chúng sanh không sai biệt. Như Thế Tôn đã dạy ở Nikàya “thấy Duyên khởi là thấy Pháp, thấy Pháp là thấy Phật” (xem Phật Học Khái Luận, cùng soạn giả). Ở cái thấy Như Lai, chủ thể và đối tượng là một.
 Qua các đoạn phân tích này, chúng ta hiểu mối nghi trên (ở ý kiến số 1) của thính chúng có thể được giải quyết.
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »