Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 30: Sự Giảng Dạy Của Đức Phật (Trang 121 - 124)

SỰ GIẢNG DẠY CỦA ĐỨC PHẬT
 
 21a. Đức Phật hỏi: Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, Như Lai có nghĩ rằng, “Pháp đã được Như Lai thuyết giảng?” Này Tu-bồ-đề, bất cứ ai nếu nói rằng, “Như Lai đã giảng Pháp” thì người ấy nói sai, người ấy đã xuyên tạc Ta do không hiểu thấu những gì Ta muốn nói. Tại sao? “Thuyết giảng Pháp, thuyết giảng Pháp”, này Tu-bồ-đề, không có một pháp nào có thể được hiểu như là sự thuyết giảng pháp cả.
 21b. Tu-bồ-đề bạch: Bạch Thế Tôn, trong tương lai, trong thời kỳ cuối cùng, trong giai đoạn cuối cùng, trong 500 năm sau cùng vào thời kỳ Chánh pháp suy đồi, có những chúng sanh nào khi nghe những pháp như thế, sẽ thực sự tin tưởng không?
- Đức Phật dạy: Này Tu-bồ-đề, họ không phải là chúng sinh, cũng không phải là không-chúng sinh. Tại sao? “ Chúng sinh, chúng sinh”, này Tu-bồ-đề, Như Lai đã từng dạy rằng tất cả chúng sinh là không-chúng sinh. Cho nên Như Lai nói là “tất cả chúng sinh”.
Lời bàn:
1.  Chúng ta cần hiểu rằng đối với những ai đã thấy thật pháp, chứng ngộ thật pháp, thì Thế Tốn không phải chỉ bày thật pháp nữa. Nhưng đối với những ai chưa chứng ngộ thật pháp, thì Thế
Tôn không thể giảng dạy để chỉ thẳng thật pháp được, vì hai lẽ:
 a/ Dù giảng dạy với sự diễn đạt thiện xảo nhất, những người chấp thủ cũng khó lãnh hội, do vì vướng mắc chấp thủ tướng.
 b/ Ngôn ngữ khái niệm chở đầy ngã tính nên không thể nói lên được thật tướng không-tướng, đối với người còn mê.
 Do lẽ đó, Thế Tôn nói Pháp không nhằm mục đích nói lên thực tại như thực, mà chỉ để đánh thức người nghe rời khỏi các ngã tưởng.
 Nếu hiểu như thế thì ý nghĩa của đoạn Kinh 21a tự hiển lộ: Thế Tôn chỉ hỗ trợ, giúp đỡ thính chúng đi ra khỏi chấp thủ tướng mà không thật sự giảng dạy Pháp.
 Ý nghĩa trên đã được Nikàya xác định: Cho đến khi nào vị Tỷ-kheo nói về ly tham (ly thủ), cho đến khi ấy vị  Tỷ-kheo ấy mới được gọi là thuyết pháp (sẽ bàn đến ở chương III).
2. Thế Tôn dạy: “Ai nói Ta thuyết pháp là nói sai, người ấy đã xuyên tạc Ta”.  Lời dạy ấy đã đến ngoài sự mong chờ của các vị còn chấp thủ, có thể gây nên một kinh ngạc lớn, và có thể lay tỉnh một số thính chúng trở về với thực tại vô ngã.
3. Tôn giả Tu-bồ-đề lo lắng: Đối với những người có tập quán chấp thủ nặng thì khó khởi lòng tin
lời dạy trên, nên bạch hỏi Thế Tôn về chúng sinh trong 500 năm cuối, vào thời Phật pháp suy đồi, không biết có lòng tin chân chính khi nghe giảng dạy như vậy không? Lần này Thế Tôn không trả lời như lần trước rằng sẽ có những chúng sanh có khả năng về Giới, về Đức, về Tuệ v.v... mà mở ngay chỗ vướng về “tưởng” có chúng sinh như là thực thể. Thế Tôn dạy: “Các chúng sinh ấy là không-chúng sinh, cũng không phải là không-chúng sinh”. Lời dạy này có nghĩa rằng:
a/ Để mở chỗ chấp trước của thính chúng là có chúng sinh, Thế Tôn dạy: “Họ là không-chúng sinh”, một trong bốn tưởng mà một vị Bồ-tát phải rời khỏi. Cái gọi là chúng sinh, thật ra nó là sản phẩm của tư tưởng, khái niệm tạo ra, chứ trong thực tế không thể có. Chúng sinh ấy chỉ là tập hợp của nhóm các duyên và do vọng tưởng mà có: Nó chỉ là vọng tưởng mà không là chúng sinh.
b/ Nhưng, khi lập luận như thế, Thế Tôn không có ý xác nhận đó là sự thật - bởi vì sự thật thì không phải là kết quả của lập luận, hay của chứng minh - mà chỉ gỡ rối tâm chấp thủ là gốc khổ đau của thính chúng. Do đó, để tránh cho thính chúng khỏi rơi vào chấp các không-chúng sinh như là một ngã tướng - do tưởng của thính chúng mà có - và xem đó như là sự thật, Thế Tôn lại phải lập luận tiếp: “Cũng không phải không-chúng sinh”.
Thế là để trọn vẹn đưa thính chúng ra khỏi cái tưởng về chúng sinh (chúng sinh tưởng), bởi tưởng về chúng sinh, hay tưởng về không- chúng sinh đều rơi vào chúng sinh, hay rơi vào chúng sinh tưởng hết thảy. Rốt ráo hơn nữa là để đưa thính chúng ra khỏi tưởng uẩn (ra khỏi hết thảy các tưởng).
 Gọn hơn, Thế Tôn dạy: “Chúng sinh, chúng sinh” là “không-chúng sinh”. Cho nên Thế Tôn nói về “chúng sinh”.
 Như đã được bàn, “chúng sinh” thực ra đấy chỉ là tưởng, là khái niệm, nó là pháp duyên sinh nên vô ngã, do đó, nó là không-chúng sinh.
 Chính do sự kiện chúng sinh ấy chỉ là tưởng, là khái niệm, là không thật, nên Như Lai mới nói về nó, hay nó mới được nói về.
 Nếu chúng sinh là thực tại, thì Thế Tôn đã không nói về; nó không thể được nói về. Tất cả những gì thuộc thực tại đều không thể nói về.
 
THE BUDDA’S DHARMA
 
 22. What do you think, Subhuti, is there any dharma by which the Tathagata has fully known the utmost, right and perfect enlightenment? - Subhuti replied: No indeed, o Lord there is not any dharma by which the Tathagata has fully known the utmost, right and perfect enlightenment -The Lord said: So it is, Subhuti, so it is. Not even the least
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »