Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 16: Tính Chất Siêu Việt Tính Biện Chứng Của Thực Tại (Trang 69 - 75)

13b. What do you think, Subhuti, is there any dharama which the Tathagata has taught? - Subhuti replied: No, indeed O Lord, there is not.
13c. The Lord said: When, Subhuti, you consider the number of particles of dust in this world system of 1.000 million worlds-would they be many? - Subhuti replied: Yes,
O Lord. Because what was taught as particles of dust by the Tathagata, as no-particles that was taught by the Tathagata. Therefore are they called “particles of dust”. And this world- system the Tathagata has taught as no-system. Therefore is it called a “world system”.
13d. The Lord asked: What do you think, Subhuti, can the Tathagata be seen by means of the thirty-two marks of the superman? - Subhuti replied: No indeed, O Lord. And why? Because those thirty-two marks of the superman which were taught by the Tathagata, they are really no marks. Therefore are they called “The thirty-two marks of the superman”.
TÍNH CHẤT SIÊU VIỆT 
TÍNH BIỆN CHỨNG CỦA THỰC TẠI
 
13a. Tại sao? Chính điều mà Như Lai dạy là Bát-nhã Ba-la-mật là không phải Ba-la-mật. Cho nên nó được gọi là “Bát-nhã Ba-la-mật”.
13b. Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, có pháp nào Như Lai đã dạy không?
- Tu-bồ-đề đáp: Bạch Thế Tôn quả thực không, không có pháp nào Như Lai đã dạy.
13c. Đức Phật dạy: Này Tu-bồ-đề, ông xem số vi trần trong Tam thiên Đại thiên thế giới này có nhiều không? - Tu-bồ-đề đáp: Bạch Thế Tôn nhiều. Bởi vì điều mà Như Lai dạy là các vi trần là không phải các vi trần. Cho nên chúng được gọi là các vi trần, và thế giới này Như Lai dạy là không phải thế giới. Cho nên nó được gọi là “thế giới”.
13d. Đức Phật hỏi: Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, Như Lai có thể được thấy qua 32 tướng đại nhân không? Tu-bồ-đề đáp: Bạch Thế Tôn, quả thực không. Tại sao? Bởi vì 32 tướng đại nhân ấy mà Như Lai đã dạy, chúng thật sự là “Không tướng”. Cho nên chúng được gọi là 32 tướng đại nhân.
Lời bàn:
1. Phần sau này của Kinh có lập lại các vấn đề của phần đầu, nhưng được lập lại với một tác dụng mới.
 Trong thính chúng có nhiều căn cơ bất đồng. Một số các vị Bồ-tát và Tỷ-kheo có thể thấy rõ Bát-nhã từ lời dạy đầu tiên của Thế Tôn. Một số thính chúng có thể hiểu nghĩa Kinh từ lời dạy thứ 2 đến lời dạy thứ 13 của phần đầu Kinh. Nhưng
vẫn còn nhiều vị trong thính chúng vẫn còn vướng mắc chấp thủ cho đến đây. Đo đó, Thế Tôn phải phương tiện tiếp tục khai mở dần các chỗ vướng mắc cho đến cuối Kinh Kim Cương. Sự kiện này cũng dễ nhận ra. Chúng ta ngày nay tụng đọc Kinh Kim Cương cả hàng chục, hàng trăm lượt vẫn còn chưa liễu ngộ, do vì tập khí sinh tử quá dày.
 Lập luận như thế để chúng ta khỏi băn khoăn rằng Kinh Kim Cương chấm dứt ngang đoạn 13 mới hợp lý hay phải đến đoạn 32 mới ổn v.v... Thực ra, Kinh Kim Cương có thể được xem chấm dứt bất cứ từ đoạn nào của Kinh tùy theo điều kiện tâm thức của từng vị trong thính chúng bị vướng mắc vào chấp thủ nhiều hay ít. Cũng có thể kéo dài thời Kinh, dài cho đến bằng Tiểu phẩm hay Đại Phẩm Bát-nhã.
 Vấn đề của chúng ta là nỗ lực nhìn cho ra tính liên tục và diễn tiến hợp lý của thời pháp song song với các diễn tiến của tâm lý và tư duy của hơn 1250 vị đệ tử của Thế Tôn.
2. Đến lượt thứ ba Thế Tôn tán thán Kinh Kim Cương và tán thán người đọc hiểu, thọ trì, giảng nói Kinh Kim Cương, thì Tôn giả Tu-bồ-đề biết đã đến lúc rất nhiều vị trong thính chúng muốn biết tên Kinh để thọ trì, nên đã bạch hỏi Thế Tôn.
 Khi Thế Tôn vừa nói ra tên Kinh là “Bát-nhã Ba-la-mật” thì thính chúng liền muốn biết ý nghĩa.
Thực tại Bát-nhã vốn thoát ly tư tưởng, thoát ly thế giới khái niệm. Tên Kinh “Bát-nhã Ba-la-mật” không nói lên gì được về thực tại Bát-nhã, mà chỉ bày gián tiếp con đường để thể nhập thực tại ấy. Do đó, Thế Tôn dạy rõ “Bát-nhã Ba-la-mật” là “không Bát-nhã Ba-la-mật”. Cho nên Thế Tôn nói là “Bát-nhã Ba-la-mật”.
 Nội dung của cái gọi là “Bát-nhã Ba-la-mật” chỉ là ngôn từ và ý niệm, nó là sự kết hợp các ý niệm của các tướng, các từ cho nên rỗng không, không có gì gọi là “Bát-nhã Ba-la-mật” cả. Vì nó không phải là Bát-nhã và không phải là thực tại qua tâm chấp thủ của thính chúng, nên nó mới được gọi là “Bát-nhã Ba-la-mật”, nên nó mới bị nhìn và bị nói về.
 Tác dụng của Kim Cương là luôn luôn loại trừ chấp thủ của thính chúng, nên Thế Tôn dạy thính chúng hãy rời khỏi ngay những lời lẽ Thế Tôn dạy, hãy rời khỏi ngay cả tên Kinh “Bát-nhã Ba-la-mật” để trở về chính mình mà đoạn trừ các ngã tưởng, các khái niệm và các chấp thủ do tưởng và khái niệm dựng lên. Bát-nhã không phải là triết lý để cho chúng ta nhận thức, bởi Bát-nhã không phải là một đối tượng để chúng ta nhận thức, để thấy hay để trú. Đấy là những gì Bát-nhã muốn nói với chúng ta, và đấy là những gì chúng ta cần giới thiệu về Bát-nhã.
3. Vì Bát-nhã ở ngoài ngôn ngữ và diễn đạt khó hiểu khó tin, nên Thế Tôn đưa ra một câu hỏi trắc nghiệm khả năng lãnh hội: “Có Pháp nào Như Lai thuyết không?” - Hỏi ở đây tức là trả lời.
4. Từ đây, đã hiển lộ thực tại như thực, Thế Tôn thường chỉ rõ cho thính chúng: Vấn đề không phải để hiểu Bát-nhã là gì, để thấy Bát-nhã là gì,  mà là vấn đề từ bỏ các tưởng, từ bỏ khái niệm, và từ bỏ chấp thủ các tướng. Khi mà khái niệm hay tưởng về các pháp rơi rụng khỏi cái nhìn, thì tức khắc thực tại như thực hiển hiện.
Nếu có một pháp nào mà Như Lai nói, thì qua ngôn ngữ khái niệm, cái gọi là pháp ấy chỉ là cái xác khái niệm. Do đó mà Tôn giả Tu-bồ-đề đã bạch: “Bạch Thế Tôn, quả thật không có pháp nào được Như Lai thuyết cả”.
Cũng thế, khi Thế Tôn đề cập đến thế giới và vi trần (các lượng nguyên tử) thì thế giới hay vi trần qua tâm chấp thủ của thính chúng chỉ còn là các từ ngữ, các ý niệm, và các tư tưởng. Hơn nữa, thế giới chỉ là tập hợp của các vi trần, mà vi trần thì cũng chỉ là một năng lượng, là rỗng không; cho nên trên thực tế, thế giới và vi trần chỉ là sự rỗng không. Do đó, Thế Tôn đã dạy: “ Thế giới là không thế giới”; “vi trần là không vi trần”. Vì thế chúng được gọi, được nhìn lại, được nói lên là “thế giới”, Vi trần”. Và chúng được nói đến là nói với ý nghĩa
vừa được phơi bày: “Thế giới” là “không thế giới”; “vi trần” là “không vi trần”.
5. Đi xa hơn và nói mạnh hơn nữa, Thế Tôn đã đề cập 32 tướng quý của Như Lai: “Này Tu-bồ-đề, Như Lai có thể được thấy qua 32 tướng quý của Như Lai không?”
Như Lai là thật tướng. Còn 32 tướng quý là tướng sinh diệt. Ba mươi hai tướng quý ấy lại được nhìn qua tâm thức đầy ắp các ngã tưởng, các khái niệm của người nghe, nên lại thêm một lần sai lạc nữa: Bấy giờ chúng chỉ là một mớ khái niệm.
Cái được gọi là “32 tướng quý”, thực chất chỉ là sự tổ hợp của nhiều duyên nên rỗng không, không có thực thể. Do đó, Thế Tôn dạy: 32 tướng là “không-tướng”.
Do vì vậy, nó được nhìn và được gọi là “32 tướng” và được nói đến với nghĩa “tướng” vốn là “không-tướng” (không phải tướng).
Cũng chính do vậy, nên Tôn giả Tu-bồ-đề đã đáp:
“Bạch Thế Tôn, không thể nhìn thấy Như Lai qua 32 tướng”.
 
THE SUPREME EXCELLENCE
 OF THIS TEACHING
 
13e. The Lord said: And again, Subhuti, suppose a woman or a man were to renounce all their belongings as
many times as there are grains of sand in the river Gange; and suppose that someone else, after taking from this discourse on dharma but one stanza of four lines, would demonstrate it to others. Then this latter on the strength of that would beget a greater heap of merit, immeasurable and incalculable.
 14a. Thereupon the impact of Dharma moved the Venerable Subhuti to tears. Having shed tears, he thus spoke to the Lord: It is wonderful, O Lord, it is exceedingly wonderful, O Well-Gone, how well the Tathagata has taught this discourse on Dharma. Through it cognition has been produced in me. Not have I ever before heard such a discourse on Dharma. Most wonderfully blest will be those who, when this sutra is being taught, will produce a true perception. And that which is true perception, that is indeed no perception. Therefore the Tathagata teaches, “true perception, true per­ception” .
14b. It is not difficult for me to accept and believe this discourse on Dharma when it is being taught. But those beings who will be in a future period, in the last time, in the last epoch, in the last 500 years, at the time of the collapse of the good doctrine, and who, O Lord, will take up this discourse on Dharma, bear it in mind, recite it, study it, and illuminate it in full detail for others, these will be most wonderfully blest.
14c. In them, however, no perception of a self will take place, or of a being, a soul, or a person. And why?
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »