Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 2: Chương I. Nhận Thức Khái Quát (Trang 7 - 12)

Chương I
NHẬN THỨC KHÁI QUÁT
 
 Kinh Kim Cương là Kinh tiêu biểu nhất cho toàn tạng Bát-nhã, nói lên đầy đủ tinh thần Chân không và Diệu hữu. Tạng Bát-nhã gồm có nhiều kinh khác nhau bàn về Trí tuệ giải thoát, về Chân như, Không tính hay Niết-bàn.
 Có những quan điểm khác nhau trong các Kinh Bát-nhã này, nhưng điểm tương đồng là bàn về Không tính hay Như tính của các pháp.
 Tạng Kinh Bát-nhã có gần 700 cuốn. Bản dịch của pháp sư Huyền Trang có 600 cuốn.
 Đến nay, các nhà nghiên cứu Phật học đều đồng ý tư tưởng Bát-nhã là tư tưởng kế thừa tư tưởng Đại chúng bộ, tư tưởng cho rằng hết thảy các pháp được sinh thành do các duyên đều là giả danh, hư ảo. Đây là các Kinh thuộc thời kỳ bộ phái, hay gọi là thời kỳ phát triển, ra đời vào thế kỷ thứ II Tây lịch (Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, tiết 3, Kimura Taiken).
Theo giáo sư Stcherbatski, tư tưởng “Tánh không” duyên khởi luận có mặt vào thế kỷ thứ II Tây lịch. Bát-nhã thuộc hệ “Tánh không” này. (Các tông phái đạo Phật, Junjiro Takakusu, bản dịch của Tuệ Sỹ, tu thư Vạn Hạnh, 1973).
 Edward Conze (Diamond sutra, tr.22) cho rằng Kinh Kim Cương được sáng tác vào thế kỷ thứ 7 hay 8 sau thời Tôn giả A-nan.
 Trong cuốn sách này, chúng tôi nhìn tư tưởng Kinh Kim Cương là tư tưởng truyền thống của Phật giáo, phù hợp Phật ý so với các kinh Nikàya. Do đó, khi trình bày về Kinh Kim Cương, chúng tôi muốn trình bày thêm phần liên hệ với tư tưởng Nikàya.
 Về tên Kinh, Kinh Kim Cương nói đủ là Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật, hay Năng Đoạn Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật. Từ Sanskrit viết là Vajrapra- j àparamità Sutra, hoặc Vajracchedika Praj àparamità Sutras, hay gọn hơn là Praj aparamità Sutras.
 Vajra là kim cương, một loại khoáng chất rất cứng có thể chặt đứt các thứ khác; Prajà  là Trí tuệ; param là ở bên ngoài, ở bên kia bờ, bên kia biên giới; ità là đã đi rồi, đã qua rồi.
 Như vậy, từ Praj àparamità có nghĩa là trí tuệ siêu việt, giải thoát ngoài các pháp bị tác thành, rời khỏi thế giới ngã tướng của khái niệm.
Từ Bát-nhã Ba-la-mật-đa, dịch âm của từ Sanskrit ở trên, thường được hiểu là trí tuệ đáo bỉ ngạn hay trí tuệ toàn giác. Bởi vì trí tuệ ấy thoát ly thế giới khái niệm, nên không thể diễn đạt nó bằng ngôn ngữ khái niệm, do đó có thể gọi trí tuệ ấy bằng tên riêng là Trí tuệ Bát-nhã. Đây là Như Lai trí hay Niết-bàn. Kinh Kim Cương trình bày về Trí tuệ siêu việt trên và về con đường thể nhập trí tuệ ấy, thứ trí tuệ như một thanh gươm báu có thể chặt đứt hết thảy tham ái, chấp thủ và vô minh, chặt đứt hết thảy phiền não và khổ đau.
 
*
*       *
 
 Kinh Kim Cương được xem là kinh tóm lược các nét chính yếu của Bát-nhã. Hiểu được Kinh này là nắm được tư tưởng của Bát-nhã.
 Kimura Taiken và một số nhà Phật học khác, cho rằng tư tưởng Bát-nhã là nền tảng của giáo lý Bắc truyền (Đại thừa). Hiểu được Kim Cương là dễ dàng đi vào các Kinh Bắc truyền khác.
 Dù có một số quan điểm khác biệt giữa các kinh điển của các bộ phái Phật giáo, giáo lý Tứ đế vẫn được chấp nhận là giáo lý căn bản chung. Nếu ở Nikàya đề cập nhiều đến Khổ đế, Tập đế, Đạo đế và rất ít về Diệt đế, thì ở Kim Cương nhấn mạnh nhiều về Diệt đế và Đạo đế. Nếu Tứ niệm
xứ là giáo lý Thiền định của Đạo đế ở Nikàya, thì ở Kim Cương, Tứ niệm xứ vẫn là pháp môn căn bản mà chư Bồ-tát an trụ.
 Dù phương cách và ngôn ngữ trình bày có khác nhau giữa Nikàya và Kim Cương Bát-nhã, thì điểm gặp gỡ cơ sở nhất vẫn là: Thế Tôn giác ngộ từ giáo lý Duyên khởi; Niết-bàn được định nghĩa như là Ái diệt, Thủ diệt hay vọng tưởng Thức diệt.
 Từ nhận xét cơ bản này, chúng ta cần loại ra ngoài tư duy của mình các quan điểm cho rằng Tứ đế, Duyên khởi là pháp nhỏ (Tiểu thừa), hay Bát-nhã không phải là kinh Phật thuyết, Bát-nhã là giáo lý phi truyền thống, trước khi đi vào tìm hiểu chân xác hơn tư tưởng của Kim Cương.
 Bát-nhã diễn đạt thực tính của các pháp, vốn ở ngoài phạm trù diễn đạt của ngôn ngữ, chính vì thế mà ngôn ngữ diễn đạt của Bát-nhã có một sắc thái đặc thù đòi hỏi người đọc có căn bản định và tuệ mới lĩnh hội được. Hình thức diễn đạt phủ định của Bát-nhã, do vậy, cũng mang một ý nghĩa khác với ý nghĩa phủ định thông thường.
 Kinh Kim Cương cô kết ý tưởng của tạng Kinh Bát-nhã nên nội dung có các điểm chủ yếu này:
 (Nói lên Không tính của các pháp. Đó là Vô ngã tính hay Duyên khởi tính, phủ nhận hết thảy các ngã tính. Vì thế, ngôn ngữ diễn đạt phủ định
triệt để các khái niệm về các tướng trạng do khái niệm dựng nên.
 (Nói lên rằng Không tính là thực tại tính như thực ở ngoài vòng chấp thủ tướng mà không phải là hoàn toàn ở ngoài thế giới này. Nói cách khác, thực tại là thế giới đang là được nhìn với trí tuệ lìa xa ngã tướng.
 Do đó, phủ định của Bát-nhã là phủ định các vọng niệm, vọng tưởng mà không phủ định toàn bộ thế giới đang là. Do không phủ nhận toàn bộ thế giới đang là, nên Bát-nhã giới thiệu Lục độ Ba-la-mật để Bồ-tát an trú. Bồ-tát vẫn làm các Phật sự độ sinh mà vẫn không lìa thực tướng.
 
*
*      *
 Thời Pháp Kim Cương được giảng cho 1250 vị đệ tử đầu tiên của Thế Tôn và một số chư Bồ-tát. Đại diện tiêu biểu cho hàng thính chúng là Tôn giả Tu-bồ-đề (Subhuti). Những vấn đề Tôn giả đặt ra là vấn đề của thính chúng mà không phải của Tôn giả. Thế Tôn dạy Tôn giả như là đang dạy cho toàn thể thính chúng. Diễn tiến của tâm lý và tư duy của Tôn giả trong thời pháp là diễn tiến của tâm lý và tư duy của thính chúng. Mỗi lần gỡ một vướng mắc chấp thủ là mỗi lần Thế Tôn làm thể hiện
thực tướng. Vướng mắc thì có chỗ thô, chỗ tế, nhưng phần thực tướng hiển bày thì trước sau như một.
 Hiểu như yậy để chúng ta nhận ra tính liên tục và thông suốt của Kinh Kim Cương qua các chuyển biến tâm lý và tư duy của thính chúng mà chúng ta cần hình dung ra xuyên qua các đoạn Kinh. Từ đây, chúng ta mới có thể cắt nghĩa các đoạn Kinh một cách nhất quán, không rời rạc hay cắt xén.
 Kinh Kim Cương đi vào các lập luận uẩn khúc và tế nhị: Vừa phủ định vừa khẳng định khiến người đọc ngỡ là những lập luận mơ hồ. Chúng ta cần cắt nghĩa một cách cẩn trọng thế nào để đạt đến kết quả chỉ phủ nhận tham ái và chấp thủ các pháp (cuộc đời), mà không phủ nhận chính các pháp (cuộc đời). Ngôn ngữ dùng ở đây là ngôn ngữ ly niệm. Hiểu được ngôn ngữ ly niệm ấy chúng ta mới hiểu được (ngộ) Bát-nhã.
 
 *
*      *
 Qua một số nhận xét khái quát ở trên, chúng ta lần lượt đi vào từng chương kinh. Mỗi chương có phần chánh văn bằng Anh ngữ, bản dịch của Edward Conze, kèm theo là bản dịch Việt ngữ và ý kiến trình bày của chúng tôi.
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »