Hiểu tâm trạng đó, Thế Tôn dạy tiếp:
BUDDHAHOOD AND THE THIRTY TWO MARKS
5. The Lord continued: “What do you think, Subhuti, can the Tathagata be seen by the possession of his marks? - Subhuti replied: “No indeed, o Lord. And why? What has been taught by the Tathagata as the possession of mark, that is truly a no-possession of no mark”. The Lord said: “Wherever there is possession of marks, there is fraud, wherever there is no-possession of no-marks there is no fraud. Hence the Tathagata is not be seen from no marks as marks”.
ĐỨC PHẬT VÀ 32 TƯỚNG QUÝ
5. Đức Phật dạy tiếp: “Này Tu-bồ-đề, ý Ông nghĩ sao, có thể thấy Như Lai qua các tướng quý?” - Tôn giả Tu-bồ-đề đáp: “Bạch Thế Tôn, quả thật không. Tại sao? Điều mà Thế Tôn dạy là sự sở đắc các tướng thật sự là sự vô đắc Không tướng. Đức Phật dạy: “Ở đâu có Sự sở đắc các tướng ở đó có sự hư vọng; ở đâu có sự vô đắc Không tướng, ở đó không có sự hư vọng. Do đó không nên thấy Như Lai từ các Không tướng như là các tướng”.
Lời bàn:
-
Tôn giả Tu-bồ-đề, đại biểu cho thính chúng, khởi lên nghi vấn: Nếu bố thí không trú tướng thì kết quả, nếu có, phải là vô tướng, tại sao Như Lai lại có thân báu với 32 tướng quý?
Thấy rõ tâm niệm đó, Thế Tôn liền hỏi câu hỏi trên để giải tỏa nghi vấn nọ.
Không thể thấy Như Lai qua các tướng quý, bởi vì các tướng vốn là pháp hữu vi, là hư vọng; còn Như Lai là chân thật tướng, là vô vi. Không thể lẫn lộn giữa thật tướng và huyễn tướng, giữa sắc thân Như Lai và Như Lai, tại đây chỉ có thể thấy Như Lai ở vô tướng. Nói khác đi, nếu thấy được thật tướng vô tướng của các tướng, tức là thấy Như Lai. Chỉ có trí tuệ vô ngã (hay Bát-nhã) mới thấy được Như Lai.
2. Ở đây, chúng ta có thể hiểu được thâm ý của Như Lai xa hơn nữa:
- Một mặt, do vì thính chúng chấp thân sắc của Như Lai là chính Như Lai, nên để phá đổ chấp trước này, Thế Tôn dạy cái thân sắc hư vọng ấy không phải là Như Lai.
- Một mặt, Thế Tôn dạy nếu thấy vô tướng ở các tướng thì tức là thấy Như Lai. Điều này nói lên rõ ràng rằng nếu thấy vô tướng của thân sắc Như Lai tức cũng thấy Như Lai. Thế là không phải không thể thấy Như Lai qua sắc tướng. Nhưng đây là điểm tế nhị mà chúng ta sẽ gặp lại ý nghĩa này vào gần cuối thời pháp. Thế Tôn phải phương tiện gỡ dần các vướng mắc, gỡ dần từng vướng mắc của thính chúng theo diễn tiến của tâm thức của thính chúng.
3. Tại đây, một số thính chúng, do vì còn chấp thủ, lại khởi lên thắc mắc: Nếu tất cả pháp là vô tướng thi hẳn là không có pháp nào để chứng đắc và để thuyết giảng, tại sao Như Lai đã giác ngộ, đã và đang thuyết pháp.
Rõ được tâm trạng ấy, Tôn giả Tu-bồ-đề lo lắng, bạch hỏi Thế Tôn câu hỏi kế tiếp:
6. Subhuti asked:Will there be any beings in the future period, in the last time, in the last epoch, in the last 500 years, at the time of the collapse of the good doctrine, who, when these words of the Sutra are being taught, will understand their truth? - The Lord replied: Do not speak thus, Subhuti! Yes, even then there will be beings who, when these words of the Sutra are being taught, will understand their truth. For even at the time, Subhuti, there will be Bodhisattvas who are gifted with good conduct, gifted with virtuous qualities, gifted with wisdom, and who, when these words of the Sutra are being taught, will understand their truth. And these Bodhisattvas, Subhuti, will not be such as have honoured only one single Buddha, nor such as have planted their roots of merit under one single Buddha only. On the contrary, Subhuti, those Bodhisattvas who, when these words of the Sutra are being honoured many hundreds of thousands of Buddhas, such as have taught, will find even one single thought of serene faith, will be such as have planted their roots of merit under many hundreds of thousands of Buddhas. Known they are, Subhuti, to the Tathagata through his Bud-
dha-cognition, seen they are, Subhuti, by the Tathagata with his Buddha-eye, fully known they are, Subhuti, to the Tatha-
gata. And they all, Subhuti, will beget and acquire an immeasurable and incalculable heap of merit.
6. Tôn giả Tu-bồ-đề bạch: Trong tương lai, trong thời gian cuối cùng, trong thời gian sau cùng, trong thời kỳ 500 năm sau cùng, vào thời suy đồi của chánh pháp, có người nào khi nghe những lời dạy này có thể hiểu được sự thật của chúng? - Đức Phật dạy: Này Tu-bồ-đề, chớ có nói vậy! Có, ngay bấy giờ sẽ có các người khi nghe những lời dạy này sẽ hiểu được sự thật của chúng. Vì ngay thuở ấy, này Tu-bồ-đề, sẽ có những vị Bồ-tát rất có khả năng về Giới, về Đức và về Tuệ, khi nghe những lời dạy này, các vị ấy sẽ hiểu được sự thật của chúng. Những vị này, này Tu-bồ-đề, sẽ không phải người đã tôn kính chỉ một đức Phật, cũng không phải chỉ gieo trồng công đức ở một đức Phật. Trái lại, này Tu-bồ-đề, những vị Bồ-tát ấy khi nghe những lời dạy này, sẽ có lòng tin kiên cố và trong sáng, phải biết họ là những người tôn kính hằng trăm nghìn đức Phật. Này, Tu-bồ-đề, Như Lai bằng Phật trí biết họ rõ ràng, này Tu-bồ-đề, Như Lai bằng Phật nhãn thấy họ rõ ràng. Này Tu-bồ-đề, tất cả họ sẽ làm nên và gặt được phước đức không thể tính toán đong lường được.
1. Tại đây, Tôn giả rõ được nghĩa vô tướng thâm sâu, sợ người đời sau khó hiểu, khó tin. Thế Tôn đã dạy: Vẫn có những người đủ Giới, Đức và Tuệ để hiểu nghĩa lý thâm huyền của Phật Pháp. Theo Kinh Kim Cương, giai đoạn hiện tại của chúng ta vẫn còn có những người có khả năng giác ngộ có được phước đức vô lượng.
2. Những người có khả năng giác ngộ ấy đã trồng phước đức ở hằng trăm nghìn đức Phật.
Quan điểm có nhiều đức Phật trong cùng một kiếp thì khác với quan điểm của Thượng tọa bộ cho rằng mỗi kiếp chỉ có một đức Phật duy nhất. Đây là quan điểm bộ phái.
Tuy nhiên, lời dạy hàng trăm nghìn đức Phật cần được hiểu theo nghĩa biểu tượng. Ngôn ngữ của Bát-nhã vốn đã là biểu tượng, nên chúng ta không phải do dự cắt nghĩa lời dạy ấy theo nghĩa biểu tượng. Theo đó, tôn kính và gieo trồng phước đức là biểu tượng sự việc hướng về, tin tưởng và hành trì ly chấp thủ tướng, hay đi vào thực tại vô ngã. Do tin tưởng và tu tập nhiều lần giáo lý vô ngã, hành giả ly tham, ly thủ. Kết quả ly tham ly thủ ấy là ý nghĩa của phước đức vô lượng.
Với ý nghĩa đó, lời dạy trên phù hợp với hiện tại, giai đoạn đang được học hỏi và tu tập rộng rãi giáo lý vô ngã.
Qua đoạn Kinh trên, chúng ta có thêm một định nghĩa về lòng tin Phật của một Phật tử: Đó là lòng tin vào giáo lý vô ngã. Lòng tin này đồng nghĩa với thấy, hiểu vô ngã.
6a. And why ? Because, Subhuti, in these Bodhisattvas (Ị) no perception of a self takes place, (2) no perception of a being, (3) no perception of a soul, (4) no perception of a person. Nor do these Bodhisattvas have (5) a perception of a dharma, or (6) a perception of a no-dhanna. (7) No perception or (8) non-perception takes place in them.
6a. Tại sao? Bởi vì, này Tu-bồ-đề, nơi những vị Bồ-tát không có tưởng về tự ngã (1) xuất hiện, không có tưởng về một chúng sinh (2), không có tưởng về một linh hồn (3), không có tưởng về một con người (4). Các vị Bồ-tát này cũng không có tưởng về pháp (5), hay tưởng về không-pháp (6), không có tưởng (7), hay không tưởng (8) xảy ra trong vị ấy.
Lời bàn:
1. Các bản dịch chữ Hán thường đề cập đến bốn tưởng (ngã, nhơn, chúng sinh và thọ giả) hay sáu tưởng (ngã, nhơn, chúng sinh, thọ giả, pháp và không-pháp). về bốn tưởng đầu, thường có cách cắt nghĩa khác nhau ở bản dịch, chú khác nhau. Eward Conze (Ibid. p.33) ghi chú rằng: Thái độ của bậc Thánh (Bồ-tát) được định nghĩa như là sự vắng mặt của tám loại tưởng, hay tám quan niệm sai lầm.
5) Không có tưởng pháp: Có nghĩa là các vị Bồ-tát biết rằng các pháp không thật hiện hữu; các vị chối bỏ quan niệm có vô số pháp độc lập, hay các thực thể tối hậu của A-tỳ-đàm.
6) Không có tưởng không pháp: Vì hai lý do:
a) Sự phủ định các pháp độc lập ấy mở ra một khoảng trống rộng lớn. Không pháp ở đây còn thực hơn các pháp, nhưng không thể là đối tượng của bất cứ một loại tưởng nào có thể có.
b) “Không pháp” mà ta đang đối mặt ở đây không hẳn là một sự phủ định đơn thuần và hoàn toàn, trong cái trống không - rỗng không các quan niệm về ngã kia có mặt đâu đó cái ở giữa khẳng định và phủ định, ở giữa “là” và “không là”.
7) Hơn thế nữa, các vị Bồ-tát không có tưởng gì cả (no perception), bởi vì tưởng thường quyết định tính chất cho sự vật, và các Bồ-tát biết rằng tính chất được quy định nầy không có trong thực tế.
8) Các Bồ-tát cũng không có không tưởng, bởi vì các vị vẫn tiếp tục nhận thức các sự vật như những người khác nhận thức, mặc dù các vị biết rằng các tưởng này, và các sự chấp nhận mà các vị xem là dĩ nhiên, không có thực tại tối hậu.
-
Như thế, đoạn Kinh này, nói rõ nghĩa tưởng không-tướng ở đoạn trước. Đã là vô tướng thì không thể được diễn tả là gì, hay không là gì, bởi vì là
gì hay không là gì đều xuất hiện như là ngã tướng. Nói cách khác, là gì hay không là gì là của khái niệm nuôi dưỡng ngã tướng. Vì thế, Thế Tôn phủ nhận tám quan điểm sai lầm trên về ngã và pháp, giúp thính chúng trực nhận vô tướng.
Chúng ta hãy đi vào lời dạy tiếp của Thế Tôn.
6b. And why? If, Subhuti, these Bodhisattvas should have a perception of either a dharma, or a no-dharma, they thereby seize on a self, on a being, on a soul, on a person. And why ? Because a Bodhisattva should not seize on either a dhanna or a no-dharma. Therefore this saying has been taught by the Tathagata with the hidden meaning: “By those who know the discourse on dharma as like unto a raft, dharmas should be torsaken, still more so no-dharma”.
6b. Tại sao ? Này Tu-bồ-đề, nếu các vị Bồ-tát này có tưởng về một pháp hay về một không-pháp, thì họ sẽ chấp chặt tự ngã, chấp chặt ngã chúng sanh, chấp chặt ngã linh hồn, chấp chặt con người. Tại sao ? Bởi vì một Bồ-tát không nên chấp chặt pháp hay không-pháp. Cho nên lời dạy này đã được Như Lai thường dạy với một ẩn nghĩa: “Những ai hiểu được lời giảng của Thế Tôn giống như chiếc bè, thì các pháp cần phải được từ bỏ, huống nữa là không-pháp”.
Lời bàn:
về từ Pháp (dharma) và-không-pháp (no-dharma) có các nghĩa khác nhau trong các bản dịch, chú. Ở đây, chúng tôi cẩn trọng cắt nghĩa theo văn mạch và tư tưởng của Kim Cương, cuốn Kinh chỉ bày vô tướng và con đường thể nhập vô tướng.
Theo văn mạch, đoạn Kinh này đang tiếp nối tư tưởng ở đoạn Kinh trước. Ở đoạn trước, do vì Bồ-tát không tin tưởng các pháp là thực có, nên Bồ-tát không khởi tưởng các pháp. Như thế từ pháp ở đây là chỉ chung các pháp hữu vi (ý tưởng này phù hợp với bài kệ cuối Kinh).
Lại nữa, quan điểm Kim Cương là: Không tưởng về pháp đã được nêu ra để bác bỏ quan điểm cho rằng các pháp có thực thể tối hậu. Khi bác bỏ sự có mặt của các pháp hữu vi, thì thính chúng sẽ rơi vào chấp rằng có một thế giới của không-pháp ngoài thế giới này. Do đó, Thế Tôn dạy: Bồ-tát cũng không có tưởng về không-pháp. Tại đây mở ra hai nghĩa:
a/ Cái không-pháp mà thính chúng hiểu như là đối lập với pháp thì hoàn toàn phủ nhận pháp, thì không phải là không-pháp mà Thế Tôn dạy.
b/ Cái thực tại có thực mà Thế Tôn tạm thời gọi nó là không-pháp như là vô-vi pháp thì lại không thể là đối tượng của bất cứ một loại tưởng nào; biết thế nên Bồ-tát không khởi tưởng về không-pháp. Nếu khởi tưởng về không-pháp thì sẽ rơi vào chấp
thủ không-pháp, Bồ-tát sẽ không còn xứng danh là Bồ tát.
Ở đây, ý nghĩa từ bỏ pháp là từ bỏ ý niệm về pháp, từ bỏ chấp thủ pháp, bởi vì pháp vốn không thật; từ bỏ không-pháp là từ bỏ ý niệm về không-pháp, từ bỏ chấp thủ không-pháp, bởi vì không-pháp không thể là đối tượng của chấp thủ, của ý niệm.
Cắt nghĩa thế là phù hợp với mục tiêu của Kim Cương vốn nhắm đến đoạn trừ các chấp thủ tướng mà không nhằm diễn tả thực tại như thực là gì.
2. Ẩn nghĩa trong đoạn Kinh trên là ẩn nghĩa ví dụ giáo lý như chiếc bè để vượt qua sông, mà không phải để nắm giữ.
Edward Conze cho rằng ẩn dụ chiếc bè chỉ tìm thấy ở Nikàya và A Hàm. Các nhà Bắc truyền đã sử dụng ẩn dụ ấy trong tinh thần của Bát-nhã (Ibid, p.35)
Ẩn dụ chiếc bè được đề cập đến ở Kinh Xà Dụ, Kinh số 22, Trung Bộ
Kinh I. Qua đó, chiếc bè nói lên một số ý nghĩa:
a/ Ở Kinh Xà Dụ, trong khi Thế Tôn dạy hành dục vọng là pháp chướng đạo, thì Tỷ-kheo Arittha lại hiểu sử dụng dục vọng lại không chướng đạo. Do điều nắm giữ sai lầm của Arittha mà Thế Tôn dạy Kinh Xà Dụ với hai ẩn dụ: Con rắn và chiếc bè.
Với ẩn dụ chiếc bè, pháp (dharma) chỉ cho lời dạy của Thế Tôn; điều nắm giữ của Arittha là phi pháp (adharma).
b/ Thế Tôn dạy phải bằng Trí tuệ quan sát ý Kinh, ứng tụng, Giải thuyết, Phúng tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, và Phương quảng, thì ý Kinh mới rõ ràng. Lại các giáo lý trên là để hành trì vượt qua khổ đau, mà không phải để tranh luận, để chỉ trích hay hý luận.
Hành trì là ý nghĩa sử dụng chiếc bè đúng cách; sử dụng cách khác là sử dụng sai chiếc bè.
d/ Khi sử dụng chiếc bè cũng chẳng biết chèo chống đúng hướng, không đúng hướng là sử dụng sai chiếc bè.
d/ Ý nghĩa bè qua bên kia bờ, không phải chỉ riêng bờ giác ngộ sau cùng mà còn chỉ bờ giác ngộ kết quả tu hành của từng pháp, từng công phu.
Mỗi pháp tu có một tác dụng riêng để đối trị các triền cái, các kiết sử, đưa hành giả vào sâu Định, Tuệ. Các biện pháp đối trị cần được xả bỏ một lần với triền cái, kiết sử. Việc tu tập Thiền chỉ, Thiền quán cũng thế, cần phải biết sử dụng và buông xả đúng lúc.
M.I 456 ghi: “Đối với Thiền chỉ, Ta nói từ bỏ Phi tưởng phi phi tưởng xứ ” . Đối với Thiền quán, M.I. 260 ghi: “Dầu cho chánh kiến này của ngươi
được thanh tịnh, chớ có chấp trước nó” - Lời đức Thế Tôn.
- Muốn vào Tứ thiền, hành giả cần buông xả Sơ, Nhị và Tam thiền. Buông bỏ các thiền tâm của Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền có nghĩa là buông bỏ pháp (dharma) huống chi các dục giới tâm lại càng cần được buông bỏ hơn - dục giới tâm là ý nghĩa phi pháp (adharma) đối với các thiền tâm.
3. Nhưng ý nghĩa sâu sắc và toàn diện hơn về “giáo lý như chiếc bè” là: Giáo lý của Thế Tôn là để đoạn trừ tham ái, chấp thủ, vô minh, mà không phải để tranh luận, chỉ trích, hay lý luận, hay để dùng vào các mục tiêu lợi dưỡng khác.
Nói “giáo lý như chiếc bè" là nhấn mạnh đến tu tập giải thoát, nhấn mạnh đến giác tỉnh đi vào trí tuệ, nhấn mạnh đến mục đích giải thoát mà không phải là cung cấp các kiến thức về con đường giải thoát.
Tất cả các khái niệm, các tưởng, các tướng, chỉ làm nên kiến thức mà không làm nên giải thoát.
Nói tóm lại, “giáo lý như chiếc bè” là lời dạy giúp cho thính chúng giác tỉnh, rời khỏi các ngôn ngữ khái niệm của lời dạy (giáo lý) để đi vào đoạn trừ ái thủ. Vấn đề chính yếu là chứng ngộ thực tại ly thủ mà không phải là hiểu thực tại. Nếu chúng ta hiểu đúng giáo lý như chiếc bè” thì Phật
giáo mới xuất hiện như là Phật giáo; hiểu sai, thì Phật giáo sẽ đánh mất tác dụng giải thoát của nó.
4. Bây giờ, chúng ta trở lại từ pháp và không-pháp của Kim Cương được nhìn theo tinh thần “giáo lý như chiếc bè”.
Hai từ này ở Kinh Kim Cương có ý nghĩa khác với hai từ ấy ở Kinh Xà Dụ; Chúng ta hãy đi thẳng vào các ý nghĩa ấy.
Do các đệ tử chấp thủ ngã tướng của pháp mà sinh tham ái, sân hận, sợ hãi, nên Thế Tôn phủ nhận ngã tướng của các pháp, dạy không tưởng về pháp. Bước thứ nhất phủ định pháp để biểu hiện tinh thần chân không của Bát-nhã.
Tiếp đến, qua bước thứ hai, Thế Tôn dạy không tưởng về không-pháp để đối trị chấp thủ tham ái không-pháp. Lần phủ định này biểu hiện tinh thần diệu hữu của Bát-nhã.
Phủ nhận tưởng về pháp là đánh thức thính chúng đi ra khỏi chấp thường; phủ nhận tưởng về không-pháp là đánh thức thính chúng đi ra khỏi chấp đoạn. Đấy là kỹ thuật đánh thức tuệ giác của thính chúng khiến thính chúng giác tỉnh đi vào nghĩa trung đạo.
Về mặt tâm lý và xã hội, tinh thần diệu hữu hay trung đạo giữ thính chúng ở lại và tìm thấy giác ngộ trong các việc độ sinh của mình, tìm thấy
giải thoát giữa biển sinh tử, phiền não, mà không từ bỏ pháp tu và không từ bỏ cuộc đời.
Hai lần phủ định trên như là sức ép cọ xát mạnh vào tâm thức của thính chúng giúp thính chúng dễ bừng tỉnh rằng khổ đau là do chính chấp thủ, còn các pháp (gồm cả phiền não) thì tự thân là vô tướng, vô tính. Chấp thủ có mặt là do có các tưởng về pháp, vì thế Thế Tôn dạy rời khỏi hết các tưởng. Rời hết thảy tưởng là rời tưởng uẩn. Rời tưởng uẩn là rời khỏi ngũ uẩn. Đây chính là trung tâm điểm của phương pháp và mục đích tu hành của toàn tạng Bát-nhã, như Bát-nhã Tâm Kinh đã tóm tắt: “…Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thế khổ ách”.
Đây là điểm mà Thế Tôn đã dạy ở Kinh Xà Dụ (và nhiều Kinh khác của Nikàya):” ... do vậy nên từ bỏ sắc, thọ, tưởng, hành và thức uẩn để được hạnh phúc, an lạc lâu dài”, (xem thêm ở chương III). Đoạn trừ tham ái, chấp thủ, và “giáo lý như chiếc bè” là sắc thái đặc biệt của giáo lý Nguyên thủy Phật giáo.
THE DHARMABODY AS THE RESULT OF GNOSIS
7. The Lord asked: What do you think, Subhuti, is there any dharma which the Tathagata has fully known as “ the utmost, right and pcrfect enlightcnment”, or is there any dharma which the Tathagata has dcmonstratcd? - Subhuti