Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 4: Tôn Giả Tu Bồ Đề Đặt Câu Hỏi (Trang 15 - 18)

gneat beings, have been helped wiih the grentest help by the Tathagata, the Arahat, the Fully-Enlightened-One. It is won derful O Lord, how much the Bodhisattvas, the greal beings, have been favoured with the hightest favour by the Tathagata, the Arahat, the Fully-Enlightened-One. How then, O Lord, should a son or daughter of good family, who have set out in the Bidhisattva-vehicle, stand, progress, control their thoughts ?”
 After these words, the Lord said to the Venerable Suhhuti “ Well said, well said, Subhuti! So it is, Suhhuti, so it is, as you say ! The Tathagata, Subhuti, has helped the Bodhisattvas, the great beings, with the greatest help, and he has favoured them with the highest favour. Therdbre, Subhuti, listen well, and attentively! I will teach you how those who have set out in the Bodhisattva-vehicle should stand, progrets, control their thoughts?” “So be it”, O Lord, the Vencrable Subhuti replied to the Lord.
 
TÔN GIẢ TU BỒ ĐỀ ĐẶT CÂU HỎI
 
2. Lúc ấy, Tôn giả Tu-bồ-đề đi đến hội chúng và ngồi xuống, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, để y ngoài qua một bên vai, gối hữu quỳ xuống, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch: “Thật là tuyệt diệu bạch đức Thế Tôn, thật vô cùng tuyệt diệu bạch đức Thiện Thệ, đức Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Toàn Giác đã giúp đỡ chư vị Bồ-tát với sự giúp đỡ kỳ diệu. Thật là tuyệt diệu bạch đức Thế Tôn, đức Như Lai, bậc
A-la-hán, bậc Toàn Giác đã hỗ trợ chư vị Bồ- tát với sự hỗ trợ cao quý nhất. Vậy bạch Thế Tôn, một thiện nam, tín nữ phát tâm Bồ- tát cầu quả vị Phật làm thế nào để an trụ tâm, để phát triển tâm và hàng phục tâm? ”.
  Đức Phật dạy Tôn giả Tu-bồ-đề: “Lành thay! Lành thay! Này Tu-bồ-đề, đúng vậy, như điều Ông nói, này Tu-bồ-đề ! Như Lai, này Tu-bồ-đề, đã giúp đỡ các Bồ-tát với sự hỗ trợ cao quý nhất. Vì vậy, này Tu-bồ-đề, hãy lắng nghe! Ta sẽ chỉ rõ cho ông làm thế nào để các thiện nam, tín nữ phát tâm cầu quả vị Phật an trú tâm, phát triển tâm và hàng phục tâm”. Tôn giả Tu-bồ-đề vâng đáp Thế Tôn.
 Lời bàn:
1. Giữa khi các vị Tỷ-kheo, các Bồ-tát không nhìn thấy các biểu hiện sinh hoạt hàng ngày của Thế Tôn chính là sự biểu hiện của thực tại như thực, và biểu hiện sinh hoạt đó đang là bài pháp sống động nói về thực tại ấy, thì giữa khi ấy, Tôn giả Tu-bồ-đề nhận ra thực tại.
Bài pháp ấy hay thực tại ấy là gì? Có lẽ Tôn giả Tu-bồ-đề biết Thế Tôn là bậc đã rời khỏi hết thảy chấp thủ, hết thảy lậu hoặc, nên mọi biểu hiện đều rời khỏi hết thảy các tưởng về ngã, biểu hiện toàn vẹn thực tại của toàn giác. Hình ảnh biểu hiện ấy là một bài pháp nói bằng ngôn ngữ im lặng, thứ ngôn ngữ ly niệm. Mà có lẽ
chỉ bằng ngôn ngữ im lặng đó mới nói lên một cách đích thực thực tại như thực.
 Mọi cử chỉ rời khỏi các tưởng chấp thủ đều đi vào Ba-la-mật. Khất thực là ý nghĩa của Trì giới Ba-la-mật; làm công việc đó đều đặn mỗi ngày là Nhẫn nhục và Tinh tấn Ba-la-mật; để tâm theo dõi hơi thở là Thiền định Ba-la-mật; và chánh niệm tỉnh giác rời hết các chấp thủ là Trí tuệ Ba-la-mật.
 Thế Tôn thường thuyết Lục độ Ba-la-mật như chính thực tại thường thuyết, nhưng thính chúng không thể nghe hiểu thứ ngôn ngữ ấy, vì thế, Tôn giả Tu-bồ-đề đã khởi bạch Thế Tôn chỉ dạy bằng các ngôn ngữ khái niệm của con người.
 Lúc thỉnh bạch, Tôn giả đã chứng ngộ thực tại ấy nên đã dâng lời tán thán Thế Tôn: ‘Thật tuyệt diệu...”.
2. Tâm tưởng đến cái ngã của tự thân, hay cái ngã của các pháp là như thế này, như thế kia trong hiện tại, quá khứ, tương lai là vọng tưởng. Do vọng tưởng có mặt mà tham ái, sân hận, si mê và sợ hãi có mặt. Khi tham ái, sân hận, si mê và sợ hãi dấy khởi thì tâm dao động, bất an. Tôn giả Tu-bồ-đề biết nhiều Tỷ-kheo trong thính chúng chưa đoạn hết chấp thủ hẳn là rơi vào dao động, nên bạch Thế Tôn chỉ dạy phương pháp an trú tâm, hàng phục tâm dao động ấy. Khi tâm an trú, thì vọng tưởng dứt, và trái lại. Bởi thế, thay vì dạy
cách an trú tâm thì Thế Tôn dạy cách hàng phục vọng tâm
3. Từ A-la-hán (Arahat) trong đoạn Kinh trên là đồng cách từ của từ Như Lai, có nghĩa là A-la-hán, Như Lai và Toàn Giác đồng nghĩa, đều chỉ quả vị Giác ngộ Vô thượng.
  Theo Nikàya, A-la-hán là bậc Thánh đã đoạn tận tham ái, chấp thủ và vô minh. Quả vị Phật cũng được Bát-nhã định nghĩa như là bậc đã tận trừ chấp thủ. Do đó, về mặt giải thoát lậu hoặc, quả vị A-la-hán không khác quả vị Phật.
 
THE VOW OF BODHISATTVA
 
3. The Lord said: Here, Subhuti, someone who has set out in the vehicle of a Bodhisattva should produce a thought in this manner: As many beings as there are in the universe of beings, comprehended under the term “beings” - egg-born, born from a womb, moisture-born, or miraculously born; with or without form; with perception, without perception and with neither perception nor non-perception - as far as any con- ceivable form of beings is conceived: all these I must lead to Nirvana, into that Realm of Nirvana which leaves nothing behind. And yet, although innumerable beings have thus been led to Nirvana, no being at all has been led to Nirvana”. And why? If in a Bodhisattva the notion of a “ being” should take place, he could not be called a “Bodhi-being”. And why? He is not to be called a Bodhi-being, in whom the
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »