Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 44: IV. Như Lai (Trang 160 - 170)

ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. (tr. 485)
 Và do vậy, Ta nói rằng sự đoạn trừ, ly tham, đoạn diệt, xả bỏ, vứt bỏ tất cả các ảo tưởng (manita) gồm ái, tà kiến, và mạn, tất cả hôn mê (mathita) của tất cả ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên, mà Như Lai được giải thoát, không còn chấp thủ”. (tr.488)
 Như thế, Nikàya giới thiệu Vô ngã và chối bỏ tất cả các loại tưởng, tất cả hiểu biết (kiến thức). Do tưởng vốn dựng nên ngã tướng và làm sinh khởi chấp thủ.
Kinh Kim Cương chủ trương lìa tất cả tưởng. Đoạn Kinh số 6 nói rõ lìa tám loại tưởng về ngã tướng. Đoạn 17h nói về vô ngã tánh: “Tất cả pháp là vô ngã, tất cả pháp là vô ngã”.
 Chúng ta có thể nói rằng đây là điểm giáo lý căn bản giống hệt giữa Nikàya và Kim Cương Bát-nhã.
 
IV. NHƯ LAI
 1. Có nên thấy Như Lai qua sắc tướng không?
     Kinh Bà-sa-cù-đa-hỏa-dụ, Trung Bộ Kinh II, trong 488A-488B ghi rõ, đại lược là: Thế Tôn xác định không thể nhận biết Thế Tôn qua sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn hay thức uẩn. Bởi vì, Như Lai là bậc đã đoạn diệt Năm uẩn. Hơn nữa, tất cả thấy
biết về Như Lai đều rơi vào chấp thủ tưởng, trong khi Như Lai là bậc đã đoạn diệt chấp thủ.
 Kinh Kim Cương Bát-nhã nhiều lần xác nhận không nên thấy Như Lai qua thân sắc của Như Lai. Tóm tắt lời dạy ấy là bài kệ của đoạn Kinh 26a:
“Nếu thấy Ta qua thân sắc Ta,
Nếu nghe Ta qua tiếng nói Ta,
Người ấy hành sai Đạo,
(dấn thân vào các nỗ lực sai lầm)
Sẽ không thấy được Ta,”
 Thế là, lời dạy “không nên nhìn Như Lai qua thân sắc” giống hệt nhau giữa Nikàya và Kim Cương Bát Nhã.
 2. Như Lai là Pháp tánh, Như tánh của các Pháp (suchness).
Trung Bộ Kinh I, số 28, Tương Ưng Bộ Kinh III, tr. 144; và Tiểu Bộ Kinh I, trang 48 (bản dịch in lần đầu của HT. Thích Minh Châu) đều ghi: “Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp; ai thấy Pháp là thấy Ta (Như Lai)”
 Một lần, Thế Tôn đến thăm Tôn giả Vakhali bị bệnh, Tôn giả bạch: “Đã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn, nhưng thân không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn”. Thế Tôn dạy: “Thôi vừa rồi, này Vakkhali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám nầy. Này
Vakkhali, thấy Ta là thấy Pháp, thấy Pháp là thấy Ta”. (Tương Ưng III, 1982, tr.144)
 Kinh Kim Cương đoạn 26 ghi kệ rằng: “Nên thấy chư Phật từ Pháp, từ Pháp có lời chỉ dạy của Như Lai. Nhưng thật tánh của các pháp không thể được nhận thức, và không ai có thể nhận thức thực tánh như một đối tượng”.
 Đoạn Kinh 17c thì xác định: “Như Lai, này Tu-bồ-đề, là đồng nghĩa với Như tánh. Như thế, không có gì khác biệt về ý nghĩa “Như Lai là thật tánh của các pháp”, được trình bày giữa Nikàya và Kim Cương.
 3. Một định nghĩa khác về Như Lai:
 Có một mẫu đối thoại giữa Thế Tôn và một vị Thiên được ghi lại trong Tương Ưng I, phẩm Cây Lau, rằng:
  Vị Thiên hỏi Thế Tôn: “Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?” (bộc lưu là dòng tham ái, sinh tử) - Thế Tôn bảo: “Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt qua bộc lưu”. “Khi Ta đứng lại, Ta bị chìm xuống; khi Ta bước tới, Ta bị trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt qua bộc lưu”. Vị Thiên liền tán thán: “Từ lâu tôi mới thấy, Bà-la-môn tịch tĩnh, không đứng lại, không bước tới, vượt chấp trước ở đời”  và lời tán thán được Thế Tôn chấp nhận. (Tương Ưng I, tr,l)
Trên thực tế, không có trường hợp không bước tới mà cũng không đứng lại.  Lời dạy trên là một cách diễn đạt rất biểu tượng. Thế Tôn vẫn đứng, vẫn đi, vẫn nằm, vẫn ngồi... nhưng rời khỏi mọi chấp thủ các tướng, nên nói là không đứng, không đi, Các tướng đứng, đi đều là tướng chấp thủ của người nhìn mà không phải là của Như Lai.
 Ngoài ra, đứng lại và bước tới là biểu tượng của khẳng định và phủ định, của chấp thường vô chấp đoạn, của hữu và vô. Thế Tôn chủ trương trung đạo, phủ nhận các đối cực ấy, nên nói là không bước tới, cũng không đứng lại”.
 Lối diễn đạt ấy hệt cùng với một thể cách của ngôn ngữ và diễn đạt của Kim Cương Bát-nhã.
 Kim Cương thì định nghĩa Như Lai: “Như Lai là vị không đi về đâu, cũng không đến từ đâu. Cho nên Ngài được gọi là Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Toàn Giác”, (đoạn Kinh 29)
 Ở đây, ai có thể tìm thấy nghĩa khác biệt giữa hai lời dạy trên của Kim Cương và Nikàya?
 4. Vô trú của Như Lai và của Đại Bồ-tát:
 Vô trú đồng nghĩa với không tác ý tất cả các tướng. Nghĩa là không trú trong không tánh hay vô ngã tánh của các pháp. Đấy là nội dung chánh niệm tỉnh giác lìa xa tham ái và ưu sầu. Kinh Tiểu Không
(Culasunnatasuttam), Trung Bộ III, bản dịch của TT. Minh Châu, 1975, chép:
“Này Ananda, Ta nhờ an trú “Không”, nên nay an trú rất nhiều” (tr. 252). “Này Ananda, vị Tỷ-kheo không tác ý..., Vô sở hữu xứ tưởng, không tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, tác ý sự nhất trí do duyên “vô tướng tâm định”. Tâm vị ấy thích thú, hân hoan, an trú giải thoát trong vô tướng tâm định. Vị ấy biết như sau: “Vô tướng tâm định này thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên. Phàm cái gì thuộc hữu vi, do tâm tự tạo nên, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy biết như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Trong sự giải thoát là sự có mặt của hiểu biết rằng đã giải thoát. Vị ấy biết “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn phải trở lại trạng thái này nữa”. Vị ấy biết: “Các ưu phiền do duyên dục lậu không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên hữu lậu không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên vô minh lậu không có mặt ở đây”. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này. Vị ấy biết: “ Loại tưởng này không có dục lậu, không có hữu lậu, không có vô minh lậu”. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này. Và cái nào không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có, Nhưng đối với cái còn lại, đây, vị ấy biết; “cái kia có, cái này có”. Này
Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, Hư thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh” (tr. 108-109). Đấy là đoạn Kinh nói về an trú “Không”  tiêu biểu nhất. Lời dạy: “Phàm cái gì thuộc hữu vi, do tâm tự tạo nên, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt” là ý nghĩa của “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.” (đoạn Kinh Kim Cương số 5).
 Kinh Đại Không (Mahasunnatasuttam), Trung Bộ III, ghi; “Này, Ananđa, Ta không quán thấy một sắc pháp nào, trong ấy có hoan hỷ, có hoan lạc, nhưng chịu sự biến dịch, chịu sự đổi khác mà không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não... Nhưng sự an trú này, này Ananđa, đã dược Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tức là sau khi không tác ý tất cả tướng, chứng đắc và an trú Nội không... Này Ananda, (Tỷ-kheo ước vọng) “sau khi chứng đạt Nội không, Ta sẽ an trú”, vị Tỷ-kheo cần phải an chỉ, an tọa, chuyên nhất và an định nội tâm”, (tr.262).
- An trú Nội không: Sớ giải là thấy rõ năm uẩn là vô ngã, trú nội tâm, ở giữa đám đông mà cảm thấy như là độc cư.
- An định nội tâm, sớ giải là trú vào Tứ thiền sắc định.
Hai đoạn Kinh trên của Níkàya nói lên Thế Tôn thường trú ở Tứ thiền sắc định, ở đó, Thế Tôn
nhất niệm trú vào Không tánh, lìa hết thảy các tâm chấp thủ.
 Như thế, trú Không tánh hay vô trú tưởng là không trú tâm vào các tướng, mà an trú vào Tứ thiền sắc định và giữ chánh niệm trên vô ngã tưởng, Kinh Kim Cương, đoạn l0c diễn đạt vị Bồ-tát đúng nghĩa thì khởi niệm không trú trước, có nghĩa là không khởi tưởng trú vào bất cứ ngã tướng nào, không trú vào sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp.
 Đoạn 14a thì nói Bồ-tát nên khởi lên “thật tưởng”. “Thật tưởng” (hay chân tưởng) thì không phải là ngã tưởng (đoạn 14c).
 Đấy là các ý nghĩa về vô trú, vô tưỏng, vô niệm hay trú Không tánh giống hệt nhau được trình bày ở Nikàya và Kim Cương.
 Điểm giáo lý thậm thâm giống hệt nhau ấy lại được trình bày dưới hình thức rất gần gũi nhau. Nói về phản ứng của một số thính chúng, chư Thiên khi nghe giáo lý trên (Tương Ưng III), đã run sợ, sợ hãi khiếp đảm, như là sự run sợ, sợ hãi, khiếp đảm của loài thú rừng trước tiếng rống của sư tử, chúa tể sơn lâm:
 “Này các Tỷ-kheo, các loài thú thuộc loài bàng sanh, khi nghe tiếng rống của con sư tử, vua của loài thú, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm...   Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có những
chư Thiên tuổi thọ dài, có mỹ sắc, hưởng lạc nhiều..., các chư Thiên này, sau khi Như Lai thuyết pháp, phần lớn họ sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Họ nghĩ rằng “Chúng ta là vô thường trong khi chúng ta tưởng là thường còn, thường trú...” (tr.103-104).
 Kinh Kim Cương, đoạn 14c-14d thì diễn tả: “Như Lai đã vứt bỏ lại ở đằng sau tất cả các tưởng. Thật là phước đức hy hữu cho những ai khi nghe Kinh này mà không run rẩy, không sợ hãi, không kinh hoàng”.
 Cho đến nay, giáo lý Vô ngã, Vô thường vẫn gây một sự kinh ngạc lớn đối với các nhà tôn giáo và các nhà nghiên cứu Phật học. Đó là điểm giáo lý rất chính thống và rất đặc thù của Phật giáo.
 5. Như Lai, A-la-hán và Bồ-tát:
 a/ Kinh Kim Cương và Nikàya mỗi khi nói đến Phật, thường xưng là Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, như thế cả hai bộ phái này đều xác nhận đức Phật cũng là một bậc A-la-hán. Nói khác đi, về mặt giải thoát khỏi các lậu hoặc (hay giải thoát thân - vimukti-kàya) xuất ly sinh tử khỏi tam giới thì giữa Phật và A-la-hán là đồng đẳng.
 b/ Theo Tương Ưng Bộ Kinh III (Phẩm Tham Luyến- Phần Chánh Đẳng Giác) xác định giữa Phật và A-la-hán đệ tử có sự khác biệt về sứ mệnh khai đạo (chuyển pháp luân). Một nơi khác của Nikàya, một lần Tôn giả Xá-lợi-phất xác nhận tâm của vị
A-la-hán đệ nhất chưa thể biết rõ tâm Như Lai; đây là điểm khác biệt về Pháp thân.
-  “Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, làm cho khởi lên con đường trước kia chưa có, là bậc đem lại con đường trước kia chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường trước kia chưa được tuyên thuyết, là bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. Còn các vị đệ tử là những vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu đạo”.
   Thế là, trong hàng A-la-hán có sự khác nhau về Pháp thân (Dharma-kàya) nên mới có các vị đệ nhất về trí tuệ, đệ nhất ly dục, đệ nhất thần thông, đệ nhất thiền định v.v... Thế Tôn đã xác nhận trong Nikàya, Tôn giả Xá-lợi-pbất ngang bằng Thế Tôn về mặt trí tuệ rõ biết pháp giới; Tôn giả Mục-kiền-liên ngang bằng Thế Tôn về thần thông; Tôn giả Đại Ca-diếp ngang bằng Thế Tôn về mặt thiện xảo nhập, trú và xuất định v.v... Thế Tôn là bậc A-la-hán viên mãn đủ các mặt giải thoát và được gọi là Phật, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
  Theo đó, Bồ-tát, Bích Chi Phật đều là A-la-hán cả, nhưng cấp độ đi đến toàn giác có khác nhau.
  Ta có thể nêu một ví dụ cho dễ nhận.
  Như một người vừa trả sạch nợ cảm thấy rất hạnh phúc. Nhưng rõ ràng, vị này còn thiếu niềm hạnh phúc của vị sau khi trả sạch nợ lại còn giàu có nữa.
Cũng thế. Phật, Bích Chi, Bồ-tát, A-la-hán đều là những vị đã phủi sạch nợ sinh tử, loại hết các lậu hoặc tham, sân, si (giải thoát thân -Vinuikti-kàya). Những cấp độ của cải sung mãn sau khi trả sạch nợ giữa các vị thì khác nhau. Đây là điểm khác biệt về Pháp thân (Dharma-kàya). Đức Phật đã viên mãn cả Pháp thân, còn các bậc giải thoát kia chưa viên mãn, đang trên đường hướng đến viên mãn, tiếp tục thành tựu Pháp thân.
 c/ Bồ- tát là mẫu giải thoát, hành lý tưởng của Đại thừa Nikàya vẫn đề cập nhiều đến Bồ-tát hạnh, đặc biệt là Bổn Sanh (Jàtaka), nhưng không sắp đặt thành lý tưởng Bồ-tát độ sanh như Đại thừa.
 Bồ-tát chân nghĩa, theo Kim Cương, là đoạn diệt hết các vọng tưởng, hết các lậu hoặc và đắc Niết-bàn như một A-la-hán, nhưng ở lại sinh tử để độ sinh- tương tự Bồ-tát Thiện Tuệ (Sumedha) kiết tập trong Nikàya.
 Thực ra, vị đại A-la-hán đề cập ở Nikàya cũng biểu hiện đủ Lục độ Ba-la-mật như một đại Bồ-tát:
- Các bậc A-la-hán thường an trú giới uẩn với tâm ly thủ hoàn toàn là nghĩa Trì giới Ba-la-mật
 Các A-la-hán vẫn trú thế, dù có thể nhập Niết-bàn, kham nhẫn thuyết pháp độ sinh là nghĩa Nhẫn nhục và Bố thí Ba-la-mật.
-  Các A-la-hán thường trú vô tướng định, hay trú không tánh, gọi là Thiền định Ba-la-mật (các vị vẫn đắc định Diệt thọ tưởng).
- Các vị chỉ ngủ non 4 tiếng đồng hồ mỗi ngày, thì giờ còn lại để hành đạo là nghĩa Tinh tấn Ba-la-mật.
 Thật là lầm lẫn: Nếu còn quan niệm A-la-hán là tiểu thừa, quả nhỏ !
 6. Như Lai lực:
 Tăng Chi III (ấn bản 1981, tr. 41-42) ghi 10 Như Lai lực như sau:
 1. Như Lai biết rõ xứ và phi xứ.
 2. Như Lai biết rõ quả báo của chúng sinh trong ba đời.
 3. Như Lai thấy rõ con đường dẫn đến các sanh thú.
4.  Như Lai thấy rõ vô lượng thế giới.
5. Như Lai biết rõ tâm hướng sai biệt của chúng sinh.
6. Như Lai biết rõ các thiền định, nhiễm, tịnh.
7. Như Lai biết rõ căn cơ của mọi chúng sinh.
8. Chứng Túc mệnh minh.
9. Chứng Thiên nhãn minh.
10. Chứng Lậu tận minh.
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »