Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 42: II. Tâm Dao Động Và Tâm An Trú (Trang 156 - 158)

  • Chỉ thọ trai một bữa trưa mỗi ngày.
  • Sau bữa cơm, chư Tăng ngồi Thiền, theo thế kiết già, lưng thẳng, để niệm trước mặt, giác tỉnh theo dõi hơi thở vào ra.
  • Kế trưa, hay xế chiều, chư Tăng nghe pháp, học pháp, thuyết pháp. Thường thì Thế Tôn thuyết giảng.
 Các nét sinh hoạt đó giống hệt với các nét được trình bày ở Nikàya mà chúng ta có thể gặp trong nhiều Kinh. Do đó, sinh hoạt đó có thể được xem là sinh hoạt truyền thống của chư Tăng.
 
II. TÂM DAO ĐỘNG VÀ TÂM AN TRÚ
VỀ TÂM DAO ĐỘNG
 “Này các Tỷ-kheo, có sáu kiến xứ. Thế nào là sáu? Ở đây có kẻ vô văn phàm phu, không hiểu rõ pháp của bậc Thánh, không thuần thục pháp của bậc Thánh, không tu tập pháp của bậc Thánh... xem sắc pháp: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
 Xem cảm thọ: ... xem tưởng: ... xem các hành:... xem cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư “như trên” và bất cứ kiến xứ nào nói rằng: “Đây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuvển
tôi sẽ trú như thế này mãi mãi, xem như vậy là “như trên”. (Trung Bộ kinh I, bản dịch của Thượng Tọa Minh Châu, 1973, tr.135)
 Và: “Người ấy khi nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai nói pháp để bạt trừ tất cả nỗ lực, thiên kiến, tùy miên về mọi chấp trước kiến xứ, sự vất bỏ mọi chấp trước, sự diệt trừ khát ái để đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Người ấy có thể nghĩ như sau: “Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt,…chắc chắn ta sẽ không tồn tại”. Người ấy lo sầu, khổ não, than vãn, đấm ngực mà khóc đến bất tỉnh” (Ibid tr.l36b).
 
     VỀ TÂM AN TRÚ
 “Và này chư Tỷ-kheo, có vị đa văn Thánh đệ tử hiểu rõ pháp của các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh,... xem sắc pháp: “Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
 Xem cảm thọ:... xem tưởng:... xem các hành:... xem cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: “như trên”  và bất cứ kiến xứ nào nói rằng: “Đây là thế giới, đây là tự ngã”, sau khi chết, tôi sẽ thường còn,... “tôi sẽ trú như thế nào mãi mãi” thì xem như vậy là: “cái này không phái của tôi, cái
này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. (Ibid. tr.136)
 Và: “Vị này khi nghe Như Lai hay đệ tử của Như Lai nói pháp để bạt trừ tất cả nỗ lực, thiên kiến, tùy miên về mọi chấp trước kiến xứ, sự an tĩnh của mọi hành động, sự vất bỏ mọi chấp trước, sự diệt trừ khát ái, để đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Vị ấy có thể không nghĩ như sau: “Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt...” Vị ấy không sầu lo, khổ não, than vãn, không đấm ngực mà khóc cho đến bất tỉnh. (Ibid. tr. 136b).
 Như thế, này chư Tỷ-kheo, nếu chấp thủ năm uẩn, chấp thủ tự ngã của các pháp, thì kẻ phàm phu sẽ dao động, khổ đau. Nếu không chấp thủ năm uẩn, không chấp thủ tự ngã của các pháp, thì tâm sẽ an trú, thoát ly khỏi phiền não, khổ đau. Đó là con đường để an trú, phát triển và hàng phục tâm của Nikàya.
 Kinh Kim Cương thì dạy Bồ-tát cầu quả giác vô thượng cần phải rời tất cả tưởng tự ngã, rời hết mọi chấp thủ.
 Như thế, ở đây có điểm giáo lý gặp gỡ rất là nền tảng về an trú, phát triển và hàng phục tâm giữa Nikàya và Kim Cương Bát-nhã. Phải chăng đây là giáo lý truyền thống?
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »