That, O Lord, which is perception of self, that is indeed no perception. That which is perception of a being, a mad soul person, that is indeed no perception. And why? Because the Buddhas, the Lords, have left all perception befhind
14d The Lord said; So it is, Suhhuti, Most wonderfufly blest will he those beings who, on hearing this Sutra, will not tremble, nor be frightened, or terrified. And why? The Tathagata has taught this as the highest perception (paramita). And what the Tathagata teaches as the highest perception, that also the innumerable Blessed Buddhas do teach therefore it is called the “highest perception".
TỐI THẮNG CỦA GIÁO LÝ NÀY
13e. Đức Phật dạy: Này Tu-bồ-đề, lại nữa, giả tỷ có một thiện nam, tín nữ bố thí thân mạng mình nhiều như số cát trong những sông Hằng kia, lại nếu một người nào khác, sau khi hiểu rõ Kinh này dù chỉ một bài kệ bốn câu, diễn nói cho người khác nghe. Thì người sau sẽ được phước đức nhiều hơn không thể đo lường tính toán được.
14a. Liền khi ấy thấy thâm nghĩa của pháp, Tôn giả Tu-bồ-đề xúc động đến rơi nước mắt. Tôn giả sụt sùi bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tồn: Thật là tuyệt diệu, bạch đấng Thiện Thệ, thật vô cùng tuyệt diệu, Như Lai đã dạy Kinh này sâu xa biết bao. Qua Kinh, tuệ nhãn đã khởi lên trong con. Trước
đây con chưa từng được nghe một Kinh như thế. Thật là phước đức bậc nhất cho những ai khi Kinh này khởi tưởng chân thật. Và cái gọi là thật tưởng, thật sự là không-tưởng. Cho nên Như Lai dạy, “thật tưởng, thật tưởng”.
14b. Thật không khó đối với con để chấp nhận và tin tưởng khi nghe Kinh này. Nhưng những ai trong tương lai, vào thời gian 500 năm sau cùng vào thời gian suy đồi của Chánh pháp, bạch Thế Tôn, hiểu được Kinh này, ghi nhớ, đọc tụng, nghiên cứu và diễn nói cho người khác nghe, những người ấy sẽ được phước đức hi hữu bậc nhất.
14c. Tuy nhiên, ở trong những người ấy không có tưởng tự ngã, tưởng chúng sinh, tưởng linh hồn, tưởng con người xảy ra. Tại sao? Bạch Thế Tôn, cái gọi là tưởng tự ngã, thật ra là không phải tưởng. Cái gọi là tưởng chúng sinh, linh hồn, người, thực ra là không phải tưởng. Tại sao? Bởi vì chư Phật, chư Thế Tôn đã từ bỏ tất cả tưởng.
14d. Đức Phật dạy: Này Tu-bồ-đề, đúng vậy, thật là phước đức bậc nhất cho những ai khi nghe Kinh này không run, không sợ, không khiếp. Tại sao? Như Lai đã dạy Kinh này là Ba-la-mật bậc nhất. Và điều mà Như Lai dạy là Ba-la-mật bậc nhất thì vô lượng chư Phật cũng dạy. Cho nên nó được gọi là “Ba-la-mật bậc nhất”.
định rõ ràng kết quả giới hạn của nó so với bố thí pháp đưa đến giải thoát.
Xác định “pháp thí thắng mọi thí” là điểm giáo lý rất truyền thống của Phật giáo.
Điểm mập mờ duy nhất của đoạn Kinh là không xác định rõ loại bố thí thân mạng trên cũng là loại bố thí hữu tướng, bởi lẽ thân mạng mà bố thí được thì hành giả dễ dàng đi ra khỏi chấp thủ ngã, pháp(nghĩa là trở thành bố thí Ba-la-mật).
2. Nếu giá trị giải thoát là tối thượng, thì giá trị các pháp tu tập cần được đặt trên cơ sở trí tuệ giải thoát mà không đặt trên việc khó làm. Theo đó, dù bố thí vô lượng thân mạng trong một ngày giá trị giải thoát vẫn được xếp sau bố thí pháp, dù chỉ bốn câu kệ.
Nikàya (xem “Phật Học Khái Luận” cùng soạn giả) cũng dạy điều tương tự: “... Tế đàn hoa trái là tốt hơn; tốt hơn nữa là bố thí; tốt nhất là tự mình tu tập Giới, Định, Tuệ”.
3. Đoạn Kinh trên nhấn mạnh “ly tứ tưởng" để tròn quả Phật, khiến một số vị trong thính chúng băn khoăn:
- Nếu giải thoát là “rời khỏi bốn tưởng” thì Thế Tôn chỉ cần dạy “rời bốn tưởng”, tại sao lại phải bố thí?
- Nếu hạnh Bồ-tát là bố thí, thì tại sao Thế Tôn xem nhẹ bố thí mà đề cao việc “rời bốn tưởng”?
Như đã bàn ở phần trước, thật là dễ hiểu rằng:
- Nếu Bồ-tát chỉ bố thí mà không “rời bốn tưởng” thì đánh mất trung tâm điểm giải thoát cho tự thân và tha thân.
- Nếu Bồ-tát chỉ hành “rời bốn tưởng”, thì đánh mất bản nguyện độ sinh.
Do vậy, Thế Tôn dạy bố thí “rời bốn tưởng” để Bồ-tát trên thì tròn quả Phật (thượng cầu), dưới thì hóa độ những ai chưa giác ngộ giải thoát (hạ hóa).
Chúng ta đều biết rằng, đối tượng nghe Kinh chính là hàng Bồ-tát. Nên Thế Tôn nhấn mạnh đến “rời bốn tưởng” là trọn vẹn. Nếu không có trí tuệ Bát-nhã (rời bốn tưởng) thì Bồ-tát tự mình không thể thành tựu Lục độ Ba-la-mật thì còn nói chi đến việc độ sinh...!
4. Do hiểu rõ thâm nghĩa ấy, Tôn giả Tu-bồ-đề cảm động trước mối quan tâm và lòng thương tưởng của Thế Tôn dành cho chư Bồ-tát và chúng sinh mà rơi nước mắt. Đây là những hạt nước mắt đầy từ bi và trí tuệ. Nước mắt rơi chính là lúc trí tuệ đang tuôn trào. Bấy giờ Tôn giả, cảm kích lại kính dâng Thế Tôn bài tán thán pháp (14a, 14b, 14c, 14d).
5. Theo nhận xét của Tôn giả Tu- bồ-đề, nếu mà bây giờ chúng ta (những người của thời kỳ 500 năm sau cùng của mạt pháp) hiểu Bát-nhã, đọc tụng Bát-nhã, nghiên cứu Bát-nhã, diễn giảng Bát-nhã, Và chấp nhận, tin tưởng sâu xa vào Bát-nhã thì phải biết là chúng ta đã tu nhiều phước trí, trồng căn lành nhiều kiếp, giờ đang và sẽ có được nhiều hồng ân Phật (14b).
Đoạn 14c nói rõ người tin, hiểu Bát-nhã là người tu tập rời khỏi các tưởng về ngã, hay gọi là an trú vào chánh niệm tỉnh giác.
Thế là ở đây, Kim Cương cũng đề nghị đoạn trừ tưởng thủ uẩn, hay đoạn trừ năm thủ uẩn để vào trí Bát-nhã. Điều mà chúng ta gặp ở rất nhiều nơi trong Nikàya và A Hàm.
Tại đây, chúng ta thấy điểm giáo lý rời hết các ngã tưởng, (hay rời hết các chấp thủ tướng), chính là rời khỏi vọng tưởng, là điểm giáo lý rất thiết thực và rất là nguyên thủy! Chư Phật đều dạy như thế về Bát-nhã, pháp hàng phục vọng tâm, thoát khỏi khổ đau, Đó là sự thật muôn thuở! (14d)
SELFLESS PATIENCE
AND PEREECTINNER EREEDOM
14e. Moreover, Subhuti, the Tathagata’s perfection of patience is really no perfection. And why? Because, Subhuti,