Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 52: XII. Tổng Kết (Trang 182 - 186)

Như huyễn thuật, như sương, như bọt nước
Như mộng, như chớp, như mây”. (đoạn 32a)
 Cả hai Kinh tạng, Nikàya và Bát-nhã, đều dạy nhìn con người và cuộc đời này là vô thường mỏng manh. Nhờ thấy vô ngã, vô thường mà xa rời tham ái và chấp thủ, nhờ đó mà khổ đau được đoạn tận.
 Cả hai Kinh tạng đều giống hệt nhau ở nhận thức và giống hệt nhau ở con đường thực hiện giải thoát: Thiền quán cái không thật và vô thường của cuộc sống.
 Ai có thể cho rằng đây không phải là nét truyền thống của giáo lý Phật giáo?
 
XII. TỔNG KẾT
 Từ các tiểu mục vừa so sánh, chúng ta thấy giáo lý Bát-nhã có cùng một truyền thống với giáo lý Nikàya, nếu chúng ta không muốn nói Bát-nhã có nguồn gốc từ Nikàya. Gốc ấy là các giáo lý căn bản: Duyên khởi, Tứ đế, Ngũ uẩn và Thiền định, từ đó Bát-nhã thoát thai.
 Đã đến lúc chúng ta không còn mơ màng cho rằng giáo lý Bát-nhã thiên về triết lý, hý luận, mông lung, hay không còn mơ màng tưởng rằng giáo lý Nikàya là cỗ xe nhỏ, là chấp thủ pháp. Đã đến lúc chúng ta cần đi ra khỏi ám ảnh của hai danh từ Đại thừa và Tiểu thừa để đi vào nhận thức trong
sáng về giáo lý giải thoát, nhìn đúng thực chất của Nikàya và Bát-nhã.
 Không ai có thể phủ nhận giáo lý rất sâu xa và thâm trầm của Bát-nhã mà người phàm phu không thể đặt chân đến được. Cũng thế, không ai có thể phủ nhận kết quả đưa đến giải thoát tối hậu, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Kinh tạng Nikàya. Cả hai Kinh tạng đều thậm thâm, không thể nghĩ bàn. Chỉ có hai điểm khác biệt đáng được ghi nhận giữa Nikàya và Kim Cương Bát-nhã là:
 a/ Nikàya có nhiều giáo lý dành cho đủ hạng căn cơ từ mới phát tâm đến giải thoát cao nhất. Riêng Bát-nhã chỉ dành cho các căn cơ ở cấp độ giải thoát sau cùng.
 b/ Căn bản của giáo lý giải thoát và con đường thực hiện đoạn trừ chấp thủ ngũ uẩn của Bát-nhã và Nikàya in hệt nhau. Điểm khác biệt nhau ở đây là Bát-nhã đã nâng cao pháp Bố thí, cũng như Trì giới, Tinh tấn và Nhẫn nhục lên đến mức giải thoát sau cùng, gọi là Ba-la-mật và lập thành lý tưởng tu tập. Việc lập các pháp tu ấy thành lý tưởng của Lục độ cũng không đi xa truyền thống và do đó, cũng không có sáng tạo thêm điểm mới mẻ nào đặc thù. Thực chất của Lục độ Ba-la-mật vẫn là Thiền Định Ba-la-mật và Trí tuệ Ba-la-mật; nhờ sự tu tập của hai Ba-la-mật này mà bốn Ba-la-mật kia được thành tựu.
 Xét kỹ thì Trì giới Ba-la-mật chỉ là Giới uẩn trong Nikàya được tu cùng với Định và Tuệ giải thoát; Tinh tấn và Nhẫn nhục Ba-la-mật chỉ là Tứ chánh cần và Niệm giác chi của Nikàya; Bố thí Ba-la-mật được thực hiện kèm theo Định và Tuệ uẩn giải thoát; Thiền định Ba-la-mật và Trí tuệ Ba-la-mật chi là Định và Tuệ của bậc Thánh hữu học được tu tập cho đến viên mãn.
 Sau hết, Niết-bàn của một vị Bồ-tát chân nghĩa đạt được do hành viên mãn lục độ chỉ là vô thủ trước Niết-bàn của một vị A-la-hán đạt được tâm và tuệ giải thoát trong Nikàya.
 Chúng ta cần hiểu rõ và cần ổn định rằng: Thế Tôn chỉ dạy một giáo lý giải thoát chung cho cả Trời, Người. Đối với các căn trí thấp hay đối với ngoại đạo, Ngài vẫn lần lượt dạy đủ các giáo lý sơ thiện, trung thiện và hậu thiện. Sự thật của tất cả pháp chỉ có một, chân lý luôn luôn chỉ có một. Không thể có chân lý ở Kinh này cao hơn chân lý ở Kinh khác.
 Bát-nhã và Nikàya đều xác định chỉ có căn cơ tu tập có lớn nhỏ, mà không có giáo lý giải thoát có cao thấp (Đại, Tiểu thừa) khác nhau.
 Thật là lầm lẫn lớn nếu cho rằng giáo lý Duyên khởi và Tứ đế là giáo lý “Tiểu thừa”. Qua Bát-nhã và Nikàya, chúng ta thấy rất rõ tất cả giáo lý Phật giáo đều nhắm đến việc đoạn diệt khổ đau của sinh
tử luân hồi, mà không phải trình bày về thực tại hay chuyên chở thực tại, nên chẳng bao giờ có một nội dung gọi là “cỗ xe lớn” và “cỗ xe nhỏ”.
 Chúng ta đi vào so sánh hai Kinh tạng trên bằng niềm tin giáo lý giải thoát Phật giáo chỉ có một và kết thúc phần so sánh tại đây cũng bằng niềm tin ấy.
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »