a great heap of merit?- Subhuti replied: Great, O Lord, great, O Well-Gone, would that heap of merit be! And why? Because the Tathagata spoke of the “heap of merit” as a non-heap. That is how the Tathagata speaks of “heap of merit” - The Lord said: But if someone else were to take from this discourse on dharma but one stanze of four Iines, and would demonstrate and illuminate it in full detail to others, then he would on the strenght of that beget a still greater heap of merit, immeasurable and incalculable. And why ? Because from it has issued the utmost, right and perfect enlightenment of the Tathagatas, Arahats, Fully-En- lightened-Ones, and from it have issued the Buddhas, the Lords. And why? For the Tathagata has taught that the dharmas special to the Buddhas are just not a Buddha’s special dharmas. That is why they are called “the dharmas special to the Buddhas”.
PHÁP THÂN NHƯ LAI
LÀ KẾT QUẢ CỦA CÔNG ĐỨC
8. Rồi đức Phật hỏi: Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, nếu một thiện nam, tín nữ đem bảy báu để đầy khắp cả Tam thiên đại thiên thế giới này mà cúng dường chư Phật, các bậc A-la-hán, các bậc Toàn Giác, thì người ấy có được nhiều phước đức không? (Tu-bồ-đề đáp: Thật nhiều, bạch Thế Tôn, thật nhiều, bạch Thiện Thệ! Vì sao? Bởi vì Như Lai nói “phước đức nhiều” ấy là không phước đức. Đấy là ý nghĩa như thế nào Như Lai nói về “phước đức nhiều” -
Đức Thế Tôn dạy: Nhưng nếu một người khác hiểu được từ Kinh này chỉ một bài kệ bốn câu, rồi giảng nói, soi sáng cho những người khác, thì phước đức người này sẽ còn nhiều hơn, không thể lường, không thể tính được. Tại sao? Bởi vì từ Kinh này mà phát sinh ra sự giác ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật, các bậc A-la-hán, các bậc Toàn Giác, và từ Kinh này mà có chư Phật, các đức Thế Tôn. Tại sao? Vì Như Lai đã dạy rằng các pháp đặc biệt của chư Phật thật sự không phải các pháp đặc biệt của chỉ một vị Phật. Đấy là lý do tại sao các pháp ấy được gọi là “các pháp đặc biệt của chư Phật”.
Lời bàn:
1. Thế Tôn tiếp tục chỉ bày ý nghĩa căn bản của Kinh: Thật tướng vô tướng của các pháp. Trong việc chỉ bày này, Thế Tôn thường đi qua hai bước khai mở căn bản:
a/ Bước thứ nhất chỉ rõ các pháp vốn là hữu-vi nên không thật.
b/ Bước thứ hai chỉ thật pháp là vô tướng, thoát ly hữu vi, thoát ly hết thảy các tưởng.
Bố thí về bảy báu của thiện nam, tín nữ là cách bố thí hữu tướng nên đưa đến kết quả hữu lậu.
Kết quả mà Thế Tôn dạy là: “Phước đức nhiều” là kết quả đối đãi của nhân quả, của các tướng; nó là hữu hạn nên đong lường, tính toán được nhiều,
ít. Cái gọi là “phước đức nhiều” này là thuộc duyên sinh nên không có tự ngã, nên thật ra nó không phải là “phước đức” (tương tự con người do ngũ uẩn hợp thành nên không thật có tự ngã là người). Do vì phước đức nhiều là của khái niệm, của tướng, mà không phải của thực tại, nên nó mới được gọi là “phước đức nhiều”.
2. Một người hiểu được toàn Kinh Kim Cương hay chỉ hiểu Kim Cương qua một bài kệ bốn câu là hiểu về trí tuệ Bát-nhã, và con đường thể nhập trí tuệ vô lậu ấy.
Kinh Kim Cương có ba bài kệ bốn câu - Hán bản chỉ có hai bài:
a/
Những ai nếu thấy Ta qua thân sắc của Ta,
Những ai nếu nghe Ta qua tiếng nói của Ta,
Những người ấy dấn thân vào những nỗ lực sai lạc,
Họ sẽ không nhìn thấy Ta.
b/
Nên thấy chư Phật ở các Pháp,
Nên thấy sự chỉ giáo của chư Phật ở Pháp thân,
Nhưng thực tính của các pháp không thể nhận thức,
Và không ai có thể nhận thức thực tính
như một đối tượng.
c/
Nên nhìn các pháp hữu vi,
Như sao, vọng cảnh, như ngọn đèn,
Như ảo thuật, như sương, như bọt nước,
Như mộng, như ánh chớp, như đám mây.
Hai bài đầu nói về thật tướng của các pháp.
Bài thứ ba chỉ cách nhìn các pháp thế nào để ly tham ái, ly chấp thủ, mà thể nhập vào trí tuệ giải thoát hoàn toàn.
Hiểu được một trong ba bài kệ trên là có thể hiểu được yếu chỉ của Kim Cương.
Sự hiểu được Bát-nhã của một người nói lên sự có mặt của trí tuệ ấy trong người hiểu. Sự có mặt của trí tuệ sẽ xua tan dần các tham ái, chấp thủ, vô minh, giúp hành giả tiến nhanh lên quả vị Vô thượng Bồ-đề.
Sau khi hiểu, giảng nói cho người khác nghe thì kết quả sẽ tốt đẹp hơn. Lúc giảng chính là lúc nói lại cho chính mình nghe, tạo thêm điều kiện cho tự thân giác tỉnh. Nội dung của hiểu và giảng nói là đưa mình và người đến trí Bát-nhã để loại trừ khổ đau. Sự xuất hiện dần trí tuệ Bát-nhã chính là sự hủy diệt dần các lậu hoặc, nên Thế Tôn nói là “phước đức vô lượng”. Bởi vì, cái gì thuộc vô lậu, vô vi thì đều ở ngoài sự đong lường, tính toán. Do vì phước đức vô lậu đó đưa đến giác ngộ quả vị cao nhất nên Thế Tôn nói là “phước đức vô lượng”. Nó là một pháp đặc biệt của chư Phật.
3. Các pháp đặc biệt của chư Phật như là Bố thí lìa hết các ngã tướng, Trì giới lìa hết thảy các ngã tướng,... (Lục độ Ba-la-mật). Tất cả các pháp đặc biệt ấy dẫn đến kết quả là làm hiển lộ Pháp thân. Ở Pháp thân, thì chư Như Lai, quả chứng, cảnh giới, trí tuệ đều chỉ là một: Đó là thật tướng vô tướng. Thật tướng ấy chung cho hết thảy các pháp nên được gọi là “các pháp đặc biệt của chư Phật”.
4. Đoạn Kinh trên nhấn mạnh và đề cao bố thí pháp. Đó là sắc thái truyền thống của giáo lý: “ Pháp thí thắng mọi thí” mà chúng ta tìm gặp ở nhiều Kinh trong Kinh tạng Nikàya và A Hàm. – Đặc biệt là Kim Cương, bố thí được đề cao là bố thí để đoạn trừ chấp thủ tướng mà không phải để cầu phước báo sanh Nhơn, Thiên.
5. Theo văn mạch trình bày ở đoạn Kinh trên, hình thức bố thí tài sản đó là hình thức hữu tướng, hữu vi. Thực ra, một người có trí tuệ vẫn có thể bố thí tài sản mà vẫn lìa xa các tướng chấp thủ, nghĩa là vẫn được phước đức vô lậu, vô lượng vô biên như tinh thần bố thí được giới thiệu ở đầu Kinh.
6. Thuật ngữ: Tam thiên Đại thiên thế giới là chỉ cõi Ta-bà. Theo Kinh Phật, có ba loại thế giới được phân biệt:
a/ Một thế giới, hay vũ trụ, gồm có 1000 mặt trời, 1000 mặt trăng, 1000 lục địa, 1000 cõi Trời, và 1000 địa ngục là một Tiểu thiên thế giới.
b/ Một hệ thống gồm có 1000 Tiểu thiên thế giới gọi là một Trung thiên thế giới.
c/ Một hệ thống gồm có 1000 Trung thiên thế giới gọi là một Đại thiên thế giới. Đại thiên thế giới này có thể được xem tương đương với một hệ thống ngân hà (galatic System) Thiên thế giới, này còn có tên là Tam thiên đại thiên thế giới.
THE FOUR GREAT SAINTS
9a. The Lord asked: What do you think, Subhuti, does it occur to the Stream-winner, “ by me has the fruit of a Stream-winner been attained?” Subhuti replied: No indeed, o Lord. And why? Because, O Lord, he has not won any Dharma. Therefore is he called a Strcam-winner. No sight- object has been won, no sounds, no smells, tastes, touchables, or objccts of mind. That is why he is callcd a “ Stream-winner”.
If, O Lord, it would occur to a Stream-winner, “by me has a Strcam-winner’s fruit been attained”, then that would be in him a seizing on a self, seizing on a being, seizing on a soul, seizing on a person.
9b. The Lord asked: What do you think, Subhuti, does it then occur to the Once-Retumer, “by me has the fruit of a Once-Retumer been atttlained? Subhuti replied: No indeed, O Lord. And why? Because there is not any dharma that has won Once-Retumership. That is why he is called a “Once-Retumer”
9c. The Lord asked: What do you think, Subhuti, does it then occur to the Never-Retumer “by me has the fruit of a Never-Retumer been attained?”
- Subhuti replied: No indeed, O Lord. And why? Because there is not any dharma that has won Never-Retumership. Therefore is he called a “Never- Retumer”.
9d. The Lord asked: What do you think, Subhuti, does it then occur to the Arahat, “by me has Arahatship been attained” - Subhuti: No indeed, O Lord. And why? Because no Dharma is called “Arahat”. That is why he is called an Arahat. If, O Lord, it would occur to an Arahat, “by me has Arahatship been attained”, then that would be in him a seizing on a self, seizing on a being, seizing on a soul, seizing on a person.
9e. And why? I am, O Lord, the one whom the Tathagata, the Arahat, the Fully-Enlightened-One has pointed out as the foremost of those who dwell in Peace. I am, O Lord, an Arahat free from greed. And yet, O Lord, it does not occur to me “an Arahat am I and free from grted”. If, O Lord, it could occur to me that I have attained Arahatship, then the Tathagata would not have declared of me that “Subhuti, this son of good family, who is the foremost of those who dwell in Peace, does not dwell anywhere; that is why he called “a dweller in Peace, a dweller in Peace”.