Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 53: Phụ Lục: Bát Nhã Tâm Kinh (Trang 187 - 204)

PHỤ LỤC
 
 
THE HEART SUTRA
BÁT NHÃ TÂM KINH
(Trái tim của Bát Nhã)
I. THE INVOCATION
Homage to the Perfection of Wisdom, the Lovely, the Holy !
II. LỜI NGUYỆN
 Xin kính lễ Thánh Pháp- Trí tuệ Toàn Giác.
II. THE PROLOGUE
 Avalokita, The Holy Lord and Bodhisattva, was moving in the deep course of the Wisdom which has gone beyond. He looked down from on high. He beheld but five heaps, and he saw that in their own-being they were exnpty.
II. PHẦN MỞ ĐẦU
 Bồ-tát Quán Tự Tại khi đã thực hành Trí tuệ Ba-la-mật (Trí tuệ toàn giác nhìn khắp mọi phương).
 

Bồ-tát chỉ thấy có năm uẩn và thấy rằng năm uẩn là rỗng không, không có tự ngã.
Ghi chú
1. Nguyên văn bản Phạn văn không có đề cập đến “độ nhất thiết khổ ách”, theo bản dịch của Conze.
2. Gambhìram: Có hai nghĩa:
- Sâu xa (tĩnh từ)
- Sự sâu (danh từ), có thể dùng đối cách như trạng từ (trong trường hợp là trạng từ thì nó đứng trước động từ; ở đây gambhìram đứng trước danh từ Bát-nhã.
          Conze dịch theo nghĩa tĩnh từ.
          Caramàno: Có hai nghĩa: di chuyển, đi thực hành.
          Conze dịch nghĩa: di chuyển, đi. Nhưng ở phần ghi chú, Conze vẫn giải thích câu “moving in the deep course of the wisdom which has gone beyond” có nghĩa là: “Was engaged in the practice of Ferfect wisdom”. Do đó, chúng tôi ổn định dịch ra Việt văn rằng: Khi thực hành Trí tuệ Ba-la-mật.
          Avalolayati: Có nghĩa là nhìn kỹ, xem xét hay nhìn khắp mọi phương (look down from on hight).
3. Avalokitesvara có nghĩa là Quán Tự Tại, là tên của Bồ-tát Quan Thế Âm, vị Bồ-tát đã giác ngộ nhưng chưa quyết định nhập Vô dư y Niết-bàn, ở lại sinh tử để cứu độ chúng sanh khỏi các khổ ách
 Bồ-tát Quán Tự Tại sau khi hành Trí tuệ Ba-la-mật, liền nhìn khắp các cõi và thấy chúng sinh đang vướng mắc vào tham ái và chấp thủ và đang chịu nhiều khổ đau.
 Qua Trí tuệ Ba-la-mật, Bồ-tát thấy chỉ có Năm uẩn mà không thật có cái ngã con người do Năm uẩn sinh. Và Năm uẩn cũng không thật mà chỉ là do duyên sinh, rỗng không không có tự ngã. Nhờ thấy như vậy, Bồ-tát bèn chỉ cho chúng sanh thấy con đường ra khỏi khổ lụy.
 Chúng sanh rơi vào khổ lụy do vì thấy lầm có tự ngã, chấp Năm uẩn là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Vì lẽ này, bản dịch chữ Hán có thêm phần “độ nhất thế khổ ách”, nếu thấy rõ Năm uẩn là không tự ngã.
 4. Thấy Năm uẩn là vô ngã (hay không có tự ngã): Cái gọi là chúng sanh chỉ là sự tập hợp của Năm uẩn do cái nhìn khái niệm dựng lên. Chúng sanh ấy, do đó, chỉ là sự có mặt của một mớ khái niệm mà không có thực thể.
 Cái gọi là Sắc uẩn, Thọ uẩn... và Thức uẩn cũng thế, chúng chỉ là khái niệm mà không phải thực thể. Chúng là rỗng không, không có tự ngã, do các duyên phối hợp thành. Bồ-tát nhìn bằng con mắt Duyên khởi (pháp nhãn) nên thấy không thật có các pháp. Đây là cái nhìn trí tuệ do công phu tu tập mà có, chứ không phải là cái nhìn của tư
duy hữu ngã. Có được cái nhìn trọn vẹn đó, Bồ-tát cần phải chứng đắc từ Bát địa trở lên (ở Bát địa mới trừ xong tập khí chấp ngã và chấp pháp). Nhưng có được khả năng tự tại như Bồ-tát Quán Tự Tại thì hẳn là phải ở địa vị Thập địa (Pháp Vân địa).
 5. Với giáo lý Bát-nhã, vấn đề được đặt ra cho chúng ta là chứng ngộ thực tại, đoạn trừ chấp thủ các tự ngã (self), mà không phải là vấn đề tư duy hiểu biết về thực tại. Khi tất cả các ngã tưởng được loại trừ thì chấp thủ đó; bây giờ Trí tuệ Ba-la-mật hiển lộ cùng với thực tại như thực.
 
III. THE D1ALECTICS OF EMPTINESS-FIRST STAGE
 
Here, O Sàriputra, form is emptiness and the very emptiness is form; emptiness does not differ from form, form does not differ from emptiness; whatever is form, that is emptiness; whatever is emptiness, that is form, the same is true of feelings, perceptions, impulses and consciousness.
 
III. CÁC BIỆN CHỨNG CỦA “KHÔNG TÁNH”
- CẤP ĐỘ THỨ NHẤT
 Ở đây, này Xá-lợi-phất, sắc là “không” (rỗng không) và chính “không” là sắc; “không” không khác gì sắc, sắc không khác “không”, bất cứ cái gì là sắc cái ấy là “không”; bất cứ cái gì là “không” cái ấy là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy.
Ghi chú
1. Đoạn Kinh này bắt đầu đi vào giới thiệu “Không tánh” của các pháp. Tôn giả Xá-lợi-phất là vị đệ tử lớn của Thế Tôn có trí tuệ bậc nhất, được chọn làm đối tượng nghe bài Tâm kinh này và bài Kinh là tiếng nói của Trí tuệ Ba-la-mật.
2. Chữ ở đây (here), đầu câu trên, chỉ cấp độ thực chứng thực tại vô ngã của Bồ-tát Quán Tự Tại, hoặc giả của Bồ-tát Bát địa trở lên.
 Chính phải ở cấp độ giải thoát ấy mới thực thấy sắc là “không”, “không” là sắc v.v...
 Khi đã chứng đắc vô ngã, thì sắc, không đều vô ngã, nên sắc không khác gì “không”, và “không” không khác sắc, sắc tức là “không”, “không” tức là sắc.
  Các uẩn còn lại cũng giống như vậy.
3. Khi Bát-nhã nói sắc tức là “không” là phủ nhận tự ngã của tất cả pháp, cái tự ngã vốn là sản phẩm của khái niệm, của chấp thủ. Khi Bát-nhã nói “không” tức là sắc là thành lập lại tất cả các pháp, nhưng chỉ thành lập ở tâm thức để loại bỏ hết chấp thủ (từ Bát địa đến Thập địa Bồ-tát).
 Như thế, Bát-nhã không dừng lại ở sự phủ định ngã tướng, cũng không nắm giữ ngã tướng. Đây là một lối biện chứng gọi là biện chứng của thực tại, hay biện chứng của “Không tánh”, hoặc là biện chứng của trung đạo, mà không phải là loại biện chứng logic của tư duy thuần lý.
 Nói sắc tức “không”, là ý nghĩa của chơn không;
 Nói “không” tức sắc, là ý nghĩa của hiện hữu.
 Thực tại của Bát-nhã là thực tại sinh động của duyên sinh vô ngã, mà không phải là một thực tại không-ngơ, không-chết. Đấy là thực tại vắng bóng tất cả tự ngã, vắng bóng tâm chấp thủ tự ngã.
 Để thấy rõ thực tại đó, hay để thể nhập thực tại đó, hành giả phải loại bỏ hoàn toàn chấp thủ tướng.
 Đây là những gì của tu tập giải thoát mà không phải của ngôn từ.
  1. Nếu vẫn còn chấp thủ, thì “Không tánh” sẽ được nhìn qua con mắt ngã tưởng và sẽ trở thành một ngã tướng, như những gì chính kẻ phàm phu đang nắm giữ, sẽ rơi vào chấp có hoặc chấp không. Nỗ lực diễn đạt, chỉ bày của Bát- nhã là giúp kẻ phàm phu và chư Bồ-tát ở các địa thấp đi ra khỏi chấp có, chấp không đó, mà không phải chỉ bày thực tại như thực là gì?
  1. Tạng Kinh Bát-nhã nếu được thu gọn lại vào Kinh Kim Cương thì vấn đề để bàn luận chỉ còn thu gọn vào Lục độ Ba-la-mật, và việc loại trừ chấp thủ tướng. Nếu thu gọn, rất gọn vào bài Bát-nhã Tâm Kinh, thì vấn đề cốt lõi nhất còn lại để bàn luận là loại trừ chấp thủ năm uẩn để chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tại đây, hiển lộ rõ ràng vấn đề tinh yếu nhất của Bát-nhã là rời khỏi chấp thủ. Giáo lý trọng tâm ấy, được xem như
trái tim Bát-nhã, nắm gọn vào câu mở đầu của Bát-nhã Tâm Kinh.
 Câu tiếp theo ở trên là mở đầu phần khai mở rộng tinh yếu của Bát-nhã ở cấp độ đầu, đấy là phần bàn về việc phá đổ chấp thủ các pháp hữu vi (điển hình là Ngũ uẩn).
 Các câu Kinh tiếp theo sau nữa là mở rộng phần bàn luận trên.
 
IV. THE DIALECTICS OF EMPTINESS
-SECOND STAGE
 Here, Sàriputra, all dharmas are marked with emptiness; they are not produced or stopped, not defiled or immaculate, not difficient or complete.
 
IV. CÁC BIỆN CHỨNG CỦA “KHÔNG TÁNH”
-CẤP ĐỘ THỨ HAI
 Ở đây, này Xá-lợi-phất, tất cả pháp là không tướng, chúng không bị sanh, không bị diệt, không cấu, không tịnh, không bất toàn, không toàn thiện.
Ghi chú
 1. Nếu ở câu (III) bàn về các pháp hữu vi, thì ở đây bàn đến các pháp vô vi, như giải thoát, Niết-bàn. ở đây nói lên, như Nikàya và Kim Cương Bát-nhã đều nói, hết thảy các pháp là vô ngã.
 Thông thường, các pháp hữu vi được hiểu là các pháp sinh diệt (bị sinh), là cấu pháp, là pháp
bất toàn, liên hệ đến tham ái, chấp thủ và vô minh; các pháp vô vi được hiểu là ly tham, ly thủ, vô cấu, vô sinh, là tịnh, toàn thiện. Ở đây, cấp độ thứ hai của biện chứng không tánh, diễn bày hữu vi và vô vi cùng một thể tánh vô ngã tánh, là tịch diệt tánh; tất cả chúng đều thoát ly hết thảy tánh do khái niệm nặn ra như sinh, diệt, vô sinh; cấu, tịnh, toàn và bất toàn. Đây gọi là “Không tánh”, là thực tại như thực của sự đoạn diệt chấp thủ, của sự chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
 
V. THE DIALECTICS OF EMPT1NESS -THIRD STAGE
  Therefore, o Sàriputra, in emptiness there is no form nor feeling, nor perception, nor impuise, nor consciousness; no eye, ear, nose, tongue, body, mind; no sight-organ elements, and so forth, until we come to: no mind- consciousness elements; there is no ignorance, no extinction of ignorance, and so forth, until we come to: there is no decay and death, no extinction of decay and death. There is no suffering, no originating, no stopping, no path. There is no cognition, no attainment and no non-attainment.
 
V. CÁC BIỆN CHỨNG CỦA “KHÔNG TÁNH”
-CẤP ĐỘ THỨ BA
 Cho nên, này Xá-lợi-phất, trong ‘‘Không tánh” (hay trong Không tướng) không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức;
không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, không có sự dập tắt vô minh (nghĩa là không có Niết-bàn). Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không có trí, không có sự chứng đắc và không có sự không chứng đắc.
Ghi chú
 1. Văn mạch đoạn Kinh này nói lên rõ ràng là đoạn kết thúc phần trình bày về các biện chứng của “Không tánh”.
 Đoạn IV xác định tất cả pháp là “Không tướng” (hay Không tánh). Đoạn này triển khai thêm rằng: Do tất cả là “Không tướng” nên vắng mặt hoàn toàn tất cả tướng, tất cả khái niệm về hữu vi và vô vi, bao gồm:
 a/ Hữu vi: Năm uẩn, sáu căn, sáu trần, sáu thức, mười hai nhân duyên, khổ đế, tập đế, đạo đế, trí, chứng đắc.
 b/ Vô vi: Diệt đế, Niết-bàn, sự vận hành dập tắt mười hai chi phần nhân duyên, không đắc, không-không đắc. Tất cả tướng của khái niệm về hữu vi và vô vi ấy có mặt là do sự có mặt của vô minh, chấp thủ. Do vô minh, chấp thủ nhận lầm các pháp có tự ngã (self) mà sinh tham ái, sân hận, sầu, bi, khổ ưu, não. Nếu giác tỉnh các pháp là vô ngã, thì ái diệt, thủ diệt và vô minh đi đến đoạn diệt, thực tại như tính hiển bày. Đó là thực tại
hoàn toàn “Không tánh” ( hay Không tướng). Thực tại này không thể là hay không là; không thể là đối tượng của bất cứ tri kiến hay chứng đắc nào cả. Nó là Trí tuệ Ba-la-mật. Tại đây, Trí tuệ Ba-la-mật, “Không tánh” và Niết-bàn là một.  Chỉ có sự chứng ngộ mới biết rõ nó, biết rõ thực nghĩa của ý nghĩa một đó.
 
VI. THE CONCRETE EMBODIMENT OF FULL 
EMPTINESS, AND ITS PRACTICAL BASIS
 Therefore, o Sàriputra, it is because of his non-attainment that a Bodhisattva, through having relied on the perfection of wisdom, dwells without thought-coverings. In the absence of thought-coverings he has not been made to tremble, he has overcome what can upset, and in the end he attains Nirvana.
 
VI. SỰ BIỂU HIỆN CỤ THỂ CỦA “HOÀN TOÀN KHÔNG TÁNH” VÀ CƠ SỞ THIẾT THỰC CỦA KHÔNG TÁNH
 Cho nên, này Xá-lợi-phất, chính do vì không chứng đắc, vị Bồ-tát nương vào Trí tuệ Ba-la-mật mà trú không bị chướng ngại. Do không bị chướng ngại, Bồ-tát không run sợ, vượt qua tất cả những gì gây rối loạn, cuối cùng Bồ-tát chứng đắc Niết-bàn.
Ghi chú
  1. Ba đoạn III, IV, và V là các biện chứng về “Không tánh”. Đoạn VI này là sự biểu hiện cụ thể của “Không tánh” qua đời sống độ sinh của Bồ-tát đã hoàn toàn giác chứng.
 Chư vị Bồ-tát tự tại trong việc độ sinh do nhờ giải thoát khỏi các vướng mắc của chấp thủ. Ngay trong sinh tử, chư vị vẫn an trú trong Niết-bàn gọi là “Vô thủ trước Niết-bàn”. Nói cách khác, khi tâm hoàn toàn thanh tịnh, ở ngoài ái và thủ, thì toàn thể cuộc đời trở nên thanh tịnh; do đó cảnh giới sanh tử của phiền não, khổ đau hiện hình thành cảnh giới thanh tịnh của giải thoát Niết-bàn.
 Với chư Bồ-tát từ Sơ địa đến Thất địa, chưa tận trừ chấp thủ pháp, cũng có thể trú trong chánh niệm vô ngã để thoát ly dần tập khí chấp thủ, hướng đến Niết-bàn vô chấp thủ. Do nhờ xả bỏ chấp ngã và chấp pháp, chư vị Bồ-tát này có điều kiện đưa tất cả cấu uế của tâm đến chỗ hoại diệt. Cuối đường hoại diệt này là Trí tuệ Ba-la-mật làm hiển lộ Niết-bàn.
Trên đây là kết quả thiết thực của an trú “Không tánh”.
  1. Tất cả những gì của Niết-bàn và chứng đắc Niết-bàn đều ở ngoài phạm trù ngôn ngữ diễn đạt. Tuy nhiện, để dẫn dắt những ai còn vướng mắc vào chấp thủ, Bồ-tát vẫn sử dụng ngôn ngữ khái niệm; chẳng hạn sự “diễn đạt”: Chứng đắc Niết-bàn nói
lên một mâu thuẫn của ngôn ngữ rằng: Niết-bàn vốn không thể được chứng đắc, trong khi đó vẫn diễn đạt chứng đắc Niết-bàn.
 Do vậy, ngôn ngữ diễn đạt và sự diễn đạt cuối cùng vẫn phải dừng lại ở một nơi nào đó để nhường bước cho sự chứng nghiệm thực tại.
 3. “Không-chứng đắc” mà Bát-nhã trình bày không phải là một lập luận thuần lý của logic mà là thực kiện của thực tại có tác dụng đưa hành giả ra khỏi các vướng mắc, các sợ hãi khổ đau.
 “Không-chứng đắc” có mặt như là sự có mặt của dòng điện, thực sự có thể dùng để chạy máy, thắp sáng mà không phải là dòng điện của ngôn ngữ trên trang sách, hay trong tư duy không có một tác dụng thực tế nào cả. Chính với điểm tác dụng trên thực tế đó, “Không tánh” mới giúp hành giả đốt cháy hết thảy các lậu hoặc đưa đến chứng ngộ Niết-bàn.
 
VII. FULL EMPTINESSIS THE BASIS ALSO 
OF BUDDHAHOOD
  All those who appear as Buddhas in . the three dods of time fully awake to the utmost, right and perfect enlightenment because they have relied on the perfection of wisdom.
VII. “KHÔNG TÁNH” CÙNG LÀ NỀN TẢNG CỦA QUẢ VỊ PHẬT
 Tất cả chư Phật trong ba đời đều nương vào Trí tuệ Ba-la-mật này mà chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Ghi chú
 1. Bồ-tát vốn nương vào Trí tuệ Ba-la-mật mà hoàn thành bổn nguyện độ sinh và thành Phật. Do đó, quả vị Phật hay Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật trong ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai) đều có nền tảng là “Không tánh”. “Không tánh” ấy là thực tại, nên là chân lý muôn thuở, không bao giờ đổi khác qua các thời gian khác nhau của quá khứ, hiện tại và tương lai.
2. Như đã được trình bày ở Kinh Kim Cương, quả vị Phật hay A-la-hán Chánh Đẳng Giác chỉ khác với quả vị A-la-hán, Bồ-tát, Bích Chi Phật ở khả năng và vai trò giáo chủ, vai trò khai mở con đường dẫn đến giác ngộ tối thượng. Ngoài điểm khác biệt tối thượng ấy, chúng ta không nên đi vào so sánh các quả vị giải thoát trên, bởi vì cảnh giới của tất cả quả giải thoát ấy ở ngoài phạm trù của tỷ giảo, của khác biệt. Ở đó, tất cả ngã tướng đều đã được dập tắt.
 Nếu cố một sự sai biệt nào đó giữa các quả giải thoát trên, thì đấy chỉ là sự sai biệt của tri
thức phân biệt của chúng ta, mà không phải là của thực tại chính nó.
 Thành Phật là trở về (hay thể nhập) với thực tại “Không tánh”; ở đó, Phật, không tánh, và Trí tuệ Ba-la-mật là một, là cứu cánh Niết-bàn.
VIII. THE TEACHING BROUGHT WITHIN THE REACH OF THE COMPARATIVELY UNLIGHTENED
 Therefore one should know the praj àparamita as the great spell, the spell of great knowledge, the utmost spell, the unequalled spell, allayer of all suffering, in truth for what could go wrong? By the prajiiàparamita has this spell been delivered. It runs like this: Gone, gone, gone beyond, gone altogether beyond, o what an awakening, all hail- This completes the Heart of perfect wisdom.
 
VII. LỜI DẠY ĐƯỢC ĐƯA VÀO TẦM HIỂU BlẾT CỦA NHỮNG NGƯỜI PHÀM 
 Cho nên cần phải hiểu biết rằng Trí tuệ Ba-la-mật là một thần chú lớn, là một minh chú lớn, là chú không gì cao hơn, là chú không gì sánh bằng, là khả năng loại trừ tất cả khổ đau, là Sự thật bởi vì không hư dối. Nên, do Trí tuệ Ba-la-mật, bài chú này được nói lên. Nói rằng: Đã qua rồi, đã qua rồi, hoàn toàn đã qua rồi. Ôi giải thoát! (reo vui) Câu mật chú - sự thật này kết thúc bài Kinh Trái tim của Trí tuệ Ba-la-mật.
Ghi chú:
 1. Edward Conze dịch chữ satyam (Pàli: iaccam) là in truth (trạng từ). Thật ra satyam (Phạn) hay saccam (Pàli) đều là biến cách thứ nhất (chủ cách) cùng cách với chủ từ Trí tuệ Ba-la-mật làm bổ túc từ cho chủ từ ấy do đó nên dịch satyam (hay saccam) là truth (sự thật).
2. Trước khi tìm hiểu ý nghĩa của câu chú cuối bài Bát-nhã Tâm Kinh, thiết tưởng chúng ta cần có một vài nhận định về giáo lý Bát-nhã.
a/ Toàn tạng Bát-nhã không có một bài thần chú nào cả, và cũng không đề cập đến thân chú.
 Kinh Kim Cương cũng không nói đến một câu thần chú nào, đã kết thúc với bài kệ thiền quán về tính vô thường và hư ảo của các pháp mà thôi.
b/ Do vì tạng Bát-nhã không nói đến thần chú, nên câu Kinh cuối bài Bát-nhã Tâm Kinh: “Nên hiểu rằng Trí tuệ Ba-la-mật là một thần chú lớn...” cần được hiểu là Trí tuệ Ba-la-mật vốn không phải là thần chú, mà chỉ được ví công năng của nó vớí công năng của một thần chú, để người tu tập dễ lãnh hội: Như thần chú lớn có hiệu năng bạt trừ được bệnh tật, tai nạn, khổ ách, cũng vậy, Trí tuệ Ba-la-mật có hiệu năng bạt trừ khổ đau sinh tử, đoạn trừ hết thảy các lậu hoặc.  Ý nghĩa này tương tự như ý nghĩa về: “Giáo lý như chiếc bè”, hay “giáo lý là chiếc bè”. Đấy là một ảnh dụ. Do vậy, chúng ta
đừng đợi chờ ở thần chú một diệu lực bạt trừ khổ lụy (của sinh tử), lậu hoặc. Thần chú chỉ có thể giúp đỡ người trì chú thoát khỏi các ách nạn ở đời, như trường hợp Pháp Sư Huyền Trang ở sa mạc Gobhi, mà không xóa tan được tham ái, chấp thủ và vô minh.
c/ Câu praj àparamitàyam ukto mantrah
 Praj àparamitàyam là ở biến cách thứ bảy (locative) có nghĩa là nơi Trí tuệ Ba-la-mật, trong Trí tuệ Ba-la-mật. Câu trên được dịch là “ở nơi Trí tuệ Ba-la-mật, thần chú này được nói lên”.
 Như thế xác định thần chú như là tiếng nói của Trí tuệ Ba-la-mật; từ nơi đó, thần chú được nói lên: Tiếng nói đó là: “Đã qua rồi, đã qua rồi, hoàn toàn đã qua rồi, ôi, giác ngộ !”
 Đấy là tiếng reo vui giác ngộ của chính Trí tuệ Ba-la-mật ấy (bây giờ tiếng nói của trí tuệ ấy và người có trí tuệ ấy là một) phù hợp với ý nghĩa diễn đạt của chữ Gate (biến cách thứ bảy nói lên chính người nói reo vui ấy chứng nghiệm giác ngộ song hành). ,
3. Có quan điểm cho rằng cứ tụng đọc nhiều lần câu thần chú kia thì Trí tuệ Ba-la-mật sẽ đến với người trì tụng như là một ân điển được ban phát từ một quyền năng nào đó. Hiểu như thế là hoàn toàn trái ngược với truyền thống giáo lý của Bát-nhã và của Nikàya.
Vấn đề của giáo lý Phật giáo Nguyên thủy (truyền thống) là trở về nương tựa mình, làm công việc giải thoát cho chính mình, nương theo sự chỉ đạo của giáo lý, mà không nương tựa một ai khác, không nương tựa một quyền năng nào khác.
 Câu thần chú trên chỉ là tiếng reo giải thoát mà không giải thoát cho ai. Nếu thần chú có thể đem lại giải thoát cho con người thì Thế Tôn đã không phải nhọc công thuyết pháp trong 45 năm ở đời.
 4. Thần chú (mantra) có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội Ấn Độ dưới thời Thế Tôn, cũng như trong thời văn học Bát-nhã ra đời, do đó, để nói lên một cách cụ thể, dễ hiểu, cho người nghe dễ cảm nhận về tác dụng của Trí tuệ Ba-la-mật, các nhà văn học Bát-nhã đã ví trí tuệ ấy như là một thần chú lớn, một minh chú lớn, một thần chú vô thượng, vô song. Nếu trong thực tế thần chú có thể giúp con người thoát khỏi bệnh tật, ách nạn, thì Trí tuệ Ba-la-mật còn có diệu lực hơn thế, như là một thần chú lớn nhất (vĩ đại nhất) có thể loại trừ ra khỏi con người tất cả lậu hoặc vô minh (minh chú), tất cả khổ đau của sinh tử. Diễn đạt Bát-nhã như thế này thì người nghe- những người phàm- dễ cảm nhận hơn là cách diễn đạt “Không tánh” một cách quá trừu tượng như ở các phần trước của bài Tâm Kinh.
5. Bát-nhã Tâm Kinh đã kết thúc bằng một câu thần chú. Thần chú thường không phải là cái gì để tìm hiểu, mà là để nhiếp tâm trì tụng, hầu có sự cảm ứng với các năng lực siêu nhiên, nó khép lại cánh cửa tư duy và mở ra cánh cửa tâm thức.
 Bát-nhã Tâm Kinh cũng thế, Trí tuệ Ba-la-mật, hay “Không tánh” cũng thế, đó không phải là đối tượng để tìm hiểu mà là của tu tập chứng ngộ.
 Các đoạn đầu của bài Tâm Kinh là nỗ lực trình bày gián tiếp về “Không tánh” và về Trí tuệ Ba-la-mật. Phần kết thúc của sự trình bày ấy phải là phần đóng cửa tư duy, đóng cửa thế giới ý nghĩa lại để đưa hành giả trở về với thực tế của việc đoạn trừ tham ái, và chấp thủ. Đó là vấn đề tu tập thiền định, tu tập các Ba-la-mật đoạn trừ các ngã tưởng.
 Tiếng reo vui giải thoát sau cùng của bài Tâm Kinh như là tiếng nói xác chứng sự có mặt sinh động và rất thực của cảnh giới giác ngộ, giải thoát, tiếng nói ở bên kia bờ xa lìa các ngã tưởng, các dục vọng và các sầu, bi, khổ, ưu, não.
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »