Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 49: IX. Giáo Lý Trung Đạo (Trang 176 - 178)

của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, có nghĩa là thường hay chấp thủ các ngã tướng.
b/ Hạng đa văn bậc Thánh đệ tử: Luôn luôn xem ngũ uẩn là “cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi” có nghĩa là thường thấy rõ vô ngã của các pháp và không chấp thủ các ngã tướng.
 2. Kinh Kim Cương, đoạn 14e và 15b cũng phân chia có hai hạng người:
a/  Hạng căn cơ thấp (căn cơ tiểu thừa): Thiếu quyết tâm tu tập giải thoát, thường chấp thủ các tướng tự ngã (self).
b/ Hạng căn cơ lớn (căn cơ đại thừa): Có quyết tâm lớn, phát bồ đề tâm cầu quả Phật, hiểu rõ vô ngã và thường không chấp thủ các tướng tự ngã.
 Sự phân chia hai hạng người ấy, với nội dung hầu như giống hệt nhau giữa Nikàya và Bát-nhã, cho phép chúng ta xem đây cũng là một quan điểm thuộc giáo lý truyền thống Phật giáo. Theo đó, bốn bậc Thánh Thanh văn đề cập ở Nikàya là thuộc hàng căn cơ rất Đại thừa. Bốn hàng Sa-môn từ Tu-đà-hoàn đến A-la-hán hoàn toàn không liên hệ gì đến cái nghĩa “tiểu thừa” như một số kinh điển và một số nhà nghiên cứu quan niệm.
 
IX. GIÁO LÝ TRUNG ĐẠO
1. Nikàya thường đề cập đến hai nghĩa trung đạo:
a/ Trung đạo tu tập.
b/ Trung đạo thật nghĩa.
- Về Trung đạo tu tập thì tránh xa hai thái cực của tu tập: Khổ hạnh ép xác và buông lung trong các dục.
- Về Trung đạo thật nghĩa, Tương Ưng Bộ Kinh II định nghĩa rất rõ, chúng ta có thể theo dõi những lời dạy sau đây của Thế Tôn:
- Tôn giả Kaccàyanagotta bạch hỏi Thế Tôn về chánh kiến?
- Thế Tôn dạy: “Này Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan: có và không có.
Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chân thế giới tập khởi, thì không chấp nhận thế giới là không có. Ai với chánh trí tuệ thấy như chân thế giới này đoạn diệt, thì không chấp nhận thế giới này là có. Này Kaccàyana, chấp thủ phương tiện, và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy. Và ai với tâm không chấp thủ phương tiện không, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không có trú trước, vị ấy không có nghĩ: “Đây là tự ngã của tôi”. Khi khổ sanh thì thấy là sanh, khi khổ diệt thì thấy là diệt. Vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không có duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy là chánh tri kiến.
“ Tất cả là có” này Kaccàyana, là một cực đoan. “ Tất cả là không có”, là một cực đoan thứ hai. Xa lìa hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết trung đạo: Vô minh duyên hành, hành duyên thức...ái...thủ. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi,  Nhưng do ly tham, đoạn hết vô minh, nên các hành diệt, do hành diệt nên thức diệt... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt”. (Tương Ưng II, 1982, tr.20)
 Một lần khác, Thế Tôn dạy, đại để:
 Cho rằng khổ do mình tạo ra, là rơi vào thường kiến. Cho rằng khổ do người khác làm ra, là rơi vào đoạn kiến. Từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết trung đạo: “như trên” (Tương Ưng II, 1982, tr. 23-24),
 Trung đạo thật nghĩa của Nikàya là rời khỏi chấp thường, chấp đoạn, rời khỏi có và không, rời khỏi tất cả chấp thủ ngã tướng của các pháp.
 2. Kinh Kim Cương, đoạn 27, cũng nói thật nghĩa thì rời chấp thường (cho thân sắc là Như Lai) và rời khỏi chấp đoạn diệt (cho rằng thân sắc khác hẳn với Như Lai). Đoạn Kinh 32b thì xác nhận thực tại không phải là pháp, cũng không phải là không pháp. Như nhiều đoạn Kinh khác của Kim Cương trình bày thực tướng thì rời khỏi hết thảy các ngã tướng, rời khỏi hết các ngã tưởng. Do đó, Trung đạo thật nghĩa theo quan điểm của Nikàya và Kim Cương Bát-nhã đều giống hệt một khuôn đúc. Chúng ta
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »