Bằng nhận thức ấy. chúng tôi đi vào tìm hiểu và đối chiếu các điểm gặp gỡ giữa giáo lý hai bộ phái kể trên.
Tại đây, trong chương sách này, chúng tôi chi phát họa một số nét khái quát,
I. TÔN GIẢ TU-BỒ-ĐỀ VÀ NÉT SINH HOẠT HÀNG
CỦA CHƯ TĂNG
1. Tôn giả Tu-bồ-đề (Subhuti) là một trong các vị đệ tử lớn của Thế Tôn trong số 1250 vị đệ từ đầu tiên. Tên gọi theo hạnh tu của Tôn giả là Vô Tránh Đạo, tên Hán dịch là Thiện Hiện.
2. Phẩm Tối Thắng, Tăng Chi Bộ Kinh I ghi: Tôn giả là vị thanh tịnh bậc nhất, vô tránh bậc nhất, và được cúng dường bậc nhất.
Kinh Vô Tránh Phân Biệt, Trung Bộ Kinh III, thuật Tôn giả do hành hạnh Vô Tránh mà đắc quả A-la-hán,
Kinh Câu-lâu-sấu Vô Tránh, Trung A Hàm số 169 ghi: Do tu hạnh Vô Tránh mà Tôn giả đắc pháp như:
“Biết pháp Như chân thật,
Tu-bồ-đề thuyết kệ,
Thực hành Chơn không này,
Bỏ đây trú tịch tịnh.”
Kinh Vô Tránh, Trung Bộ Kinh III (Nikàya), định nghĩa “Vô Tránh” rằng:
“Chớ có hành trì dục lạc hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Cũng không nên hành tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và biết chỉ trích, không tán thán và không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp. Nên biết phán xét về lạc. Sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc (thiền định lạc). Không nên nói lên lời hư vọng, không thật, không liên hệ đến mục đích. Một mặt đối mặt với ai, không nên nói lời mất lòng. Nên nói rất từ từ, không vội vàng. Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng. Như vậy là tổng thuyết về Vô Tránh Phân Biệt” (trang 443-444)
Trung A Hàm, kinh số 169, thì định nghĩa:
“Đừng mong cầu dục lạc, là nghiệp rất hèn, là hạnh của phàm phu. Cũng đừng mong cầu tự thân khổ hạnh. Xa lìa hai cực đoan chánh hạnh không tương ứng với cứu cánh. Xa lìa hai cực đoan ấy thì có trung đạo tác thành mắt, thành trí, tự tại„ tác thành định, đưa đến trí, giác ngộ Niết-bàn. Có tán thán và có chỉ trích, có không tán thán và không có trích mà nói pháp, quyết định trong giới hạn,
và sau khi biết quyết định, thường tùy cầu nội lạc (thiền định lạc), đừng nói lời chê bai sau lưng, đừng khen người mặt đối mặt; nói vừa phải chứ đừng quá giới hạn, tùy theo phong tục địa phương, nói phải, đừng nói quấy. Đó là những vấn đề của Kinh Phân Biệt Vô Tránh”.
Kinh Kim Cương thì ghi vài nét về Tôn giả rằng:
“Bạch Thế Tôn, con là người mà Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Toàn Giác xác nhận là thứ nhất trong những người tịch tịnh. Bạch Thế Tôn, con là A-la-hán đã giải thoát khỏi tham ái”
Qua các phần vừa trưng dẫn, Nikàya và Kim Cương đã ghi nhận một số nét căn bản giống nhau về Tôn giả. Qua đó, chúng ta nhận ra thời pháp Kinh Kim Cương diễn ra sau thời pháp thứ hai mà Thế Tôn giảng về Ngũ uẩn và Vô ngã tại vườn Lộc Uyển cho năm anh em Tôn giả Kiều Trần Như tron bốn ngày sau thời thuyết Tứ đế đầu tiên. Do đây có lẽ không phải là lần đầu Thế Tôn giảng Kim Cương, bởi giáo lý này có nội dụng tương tự giáo lý Ngũ uẩn và Vô ngã.
2. Nếp sinh hoạt mỗi ngày của chư Tăng; qua phần dẫn nhập của Kim Cương, hiện rõ mấy nét chính:
- Chư Tăng đi khất thực vào mỗi sáng. Như Lai cũng khất thực như các vị Tỷ-kheo, các đệ của Ngài.