Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tư Tưởng Kinh Kim Cương

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 206.

Chương 19: Sự Hiện Hữu Và Không Hiện Hữu Của Chúng Sinh (Trang 85 - 87)

trú vào bất cứ pháp nào, cũng không trú vào không-pháp. Đấy là “tâm vô sở trụ”.    
 Tâm “vô sở trụ” này đích thị là tâm trú niệm tỉnh giác được đề cập ở Nikàya và A Hàm.
 Đây chính là câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên của Tôn giả Tu-bồ-đề về an trú tâm và hàng phục tâm được Thế Tôn giảng dạy dưới một hình thức trình bày khác, rất gọn và rất mạnh.
 
THE EXISTENCE AND NON-EXISTENCE
 OF BEINGS
 
14f. And further, Subhuti, it is for the weal of all beings that a Bodhisattva should give gifts in this manner. And why? This perception of a being, Subhuti, that is just a non-perception. Those all beings of whom the Tathagata has spoken, they are indeed no-beings. And why? Because the Tathagata speaks in accordance with reality, speaks the truth, speaks of what is, not otherwise. A Tathagata does not speak talsely.
 
SỰ HIỆN HỮU VÀ KHÔNG HIỆN HỮU 
CỦA CHÚNG SINH
 
14f. Hơn nữa, này Tu-bồ-đề, chính vì hạnh phúc của tất cả chúng sinh mà Bồ-tát bố thí theo cách ấy. Tại sao? Này Tu-bồ-đề, cái tưởng chúng sinh này, đúng thật là không-tưởng. Những chúng sinh kia mà Như Lai hỏi đến, quả thật là không chúng
Sinh. Tại sao? Bởi vì Như Lai nói theo thực tại, nói sự thật, nói những gì có thật, mà không nói những gì khác. Đức Như Lai không nói hư dối.
Lời bàn:
  1. Kim Cương trình bày Thế Tôn nói pháp vì lợi ích, vì hạnh phúc của tất cả chúng sinh; đây là mục đích của nói Pháp, như Nikàya (và A Hàm) thường đề cập.
Do vì mục đích đó, nên Bồ-tát không vì chấp thủ của chúng sinh mà không tìm cách soi sáng, diễn nói con đường ra khỏi chấp thủ; cũng không vì sự hư hữu của chúng sinh mà xao lãng việc độ sinh.
  1.  “Tưởng chúng sinh là không-tưởng” và “chúng sinh là không chúng sinh”. Chúng ta biết rằng cái gọi là chúng sinh chỉ là sản phẩm của chấp ngã tướng, của khái niệm, của vọng tưởng. Chúng sinh và tâm thức của thính chúng chỉ là một mớ khái niệm, trống rỗng, không có thực thể; lại nữa cái gọi là tưởng cũng trống rỗng, vì do các duyên sinh ra. Do đó, chúng sinh kia thực ra là không-chúng sinh. Và tưởng về cái đối tượng chúng sinh trống rỗng đó hẳn là không-tưởng (không có ý nghĩa gì của  tưởng). Tất cả cái gọi là tưởng và chúng sinh ấy chỉ là một mớ khái niệm, ngôn ngữ, mà không phải là thực tại.
Tác dụng của cái thấy “tưởng là không-tưởng” và “chúng sinh là không-chúng sinh” giúp cho thính
chúng giác tính buông rời hết thảy các tuởng đang dính mắc trong tâm. Khi các tưởng đổ xuống, thì trí tuệ thấy thực tại như thực xuất hiện. Khi các tưởng chưa được buông bỏ, thì do thấy cái tướng không thật của tưởng và của chúng sinh mà thính chúng rời khỏi dần tham ái và chấp thủ.
 Ở đây, chúng ta cần nhận rõ rằng: Khi có ngã tưởng thì chấp thủ sinh và tham ái (sân hận) sinh; khi tham ái, sân hận, chấp thủ vơi nhẹ đi thì tập quán của ngã tưởng cũng yếu kém đi; khi tham ái và chấp thủ tiêu, thì ngã tưởng cũng do đó mà tiêu (xem thêm chương Ngũ uẩn, Phật Học Khái Luận, cùng soạn giả).
3. Các đoạn Kinh vừa bàn đều diễn tiến liên tục và nhất quán nhắm vào việc đoạn trừ tưởng uẩn và chấp thủ, tham ái (thuộc hành uẩn).
 
TRUTH AND FALSEHOOD
 
14g. But neverthless, Subhuti, with regard to that dharma which the Tathagata has fully known and demonstrated, on aecount of that there is neither truth nor fraud.
 In  be darkness a could not see  anything. Just so should be viewed a Bodhisattva who has fallen among things, renounces a gift. A man with eyes would, when the night becomes light and the sun has arisen, see manifold forms. Just so should be viewed a Bodhisattva
/54
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »