Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 47: 1. Việc truyền dịch của Phật Giáo Qui - Tư (Trang 481 - 482)

là lý tất nhiên. Từ trên mặt địa lý mà nói, Phật giáo truyền vào Qui-tư, so với việc truyền vào Trung Quốc là sớm hơn, hoặc là cùng thời.
1. Việc truyền dịch của Phật giáo Qui-tư.
Phật giáo truyền thừa đứng đầu là việc phiên dịch, mà phiên dịch kinh điển quí ở tại “đắc thể” (khéo léo). Xuất tam tạng ký tập quyển 7:8
“Ngôn ngữ Thiên Trúc và Hán ngữ khác âm. Gọi sách ấy là Thiên thư, tiếng nói là Thiên ngữ, tên vật chẳng đồng, truyền cho đúng thật chẳng dễ.”
Từ Lục Triều trở về trước, Qui-tư là trung tâm truyền bá Phật điển, phần lớn kinh Phật là do Qui-tư truyền vào, hoặc do Sa-môn Qui-tư trực tiếp tham gia công tác truyền dịch. Truyện An Huyền trong Xuất tam tạng ký tập quyển 13:9 Cuối niên hiệu Chính Thỉ thời Tào Ngụy, vương tử Qui-tư là Bạch Diên tham gia với Chi Thí Luân dịch kinh Thủ lăng-nghiêm. Dịch giả vương thế tử Qui-tư Bạch Diên giỏi tiếng Tấn, tiếng Hồ, hiểu rộng nhiều sách vở, nội ngoại điển đều nắm hết. Kinh Phật khi truyền vào các vùng đất Tây Vực, vì nhân dân bản xứ đương thời chẳng hiểu được kinh điển Phạn văn, nên trước tiên dịch ra tiếng Hồ, rồi từ tiếng Hồ dịch thành Hán ngữ; do đó trong kinh điển Hán dịch, hình như có nhiều kinh điển dịch từ Phạn văn.
Vào thời Hoàn đế nhà Hán, Sa-môn Trúc-phật-sóc người Thiên Trúc đến Trung Hoa, mang theo kinh điển tiếng Hồ đến Hoa Hạ. Lúc bấy giờ, tiếng Hồ lưu hành phổ biến ở đời,
 

8 Xuất tam tạng ký tập 7, T55n2145_p50a05.
9 Xuất tam tạng ký tập 13, p96a09.
 
nhiều kinh điển từ bản tiếng Hồ dịch thành Hán văn. Năm đầu niên hiệu Nguyên Khang, ngài Chi Pháp Hộ cầm bản kinh Thủ lăng-nghiêm tam-muội tiếng Hồ, dịch miệng, ông Nhiếp Thừa Viễn chấp bút. Truyện Đàm-kha-ca-la trong Cao tăng truyện quyển 110 nói, Thời Tào Ngụy, ngài Bạch Diên dịch kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác v.v… gồm có 6 bộ. Theo Xuất tam tạng ký tập quyển 811 thì Năm Thái Khang thứ 7 (năm 286 Tl.), ngài Trúc Pháp Hộ cầm kinh Chánh pháp hoa văn Hồ, miệng đọc và có vị cư sĩ Qui-tư là Bạch Nguyên Tín tham gia hiệu đính. Xuất tam tạng ký tập quyển 7,12 kinh A-duy-việt-trí-già ghi: Năm Thái Khang thứ 5 đời Tấn, ngài Trúc Pháp Hộ được kinh Bất thoái chuyển pháp luân bằng chữ Phạn ở Đôn Hoàng, từ tay vị phó sứ Qui-tư là Khương Tử Hầu, ngài đọc ra lời Tấn (tức Hán văn). Xuất tam tạng ký tập quyển 1113 ghi, gần Quan Trung xuất hiện hai loại giới bản của Ni là Hạ tọa tạp thập nhị sự và Tạp sự, cộng chung là 3 quyển trước, giữa và sau. Pháp Thái, Tuệ Thường tuy theo người nước ngoài thu thập được Ngũ bách giới bản, nhưng cảm thấy rất phức tạp, hình như người trước tác chẳng viên mãn lắm. Tăng Thuần được Phật-đồ-thiệt-di ở Qui-tư cho giới bản, là Tỳ-kheo-ni giới bản và Thọ giới pháp, mới biết đó chính là do đức Như Lai chế ra, giới pháp đất Hán thịnh hành từ đây. Ngài Phật-đồ-thiệt-di có địa vị rất cao trong giới Phật giáo Qui-tư, đó là nhân vật thời kỳ giữa thế kỷ thứ IV.
Như trước đã thuật, từ giữa thế kỷ thứ III trở lại, những người trong Tăng lữ Phật giáo Qui-tư đến Trung Quốc truyền
 

10 Cao tăng truyện 1, T50n2059_p325a10.
11 Xuất tam tạng ký tập 8, p56c17.
12 Xuất tam tạng ký tập 7, p50b02.
13 Xuất tam tạng ký tập 11, p76c09.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »