Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 25: Sự hưng khởi của tộc Nhu Nhiên (Trang 197 - 198)

 Ngụy đến thời Thập Dực Kiện14 là mạnh nhất, phía Bắc có sa mạc, phía Nam chiếm cứ Âm Sơn,15 phía Đông từ Uế Mạch (miền Bắc Triều Tiên ngày nay), phía Tây đến Phá-lạc-na (nay là Fergana), không nơi nào không qui thuận. Vua Tiền Tần là Phù Kiên đến chinh phạt, Thập Dực Kiện bại trận chết, nước bị diệt. Nước phương Bắc kế tiếp khởi lên là Nhu Nhiên.
Sự hưng khởi của tộc Nhu Nhiên:
Nhu Nhiên còn gọi là Nhuyễn Nhuyễn. Thủ lĩnh bộ tộc gốc người Tiên Ti, dân bộ tộc là Cao Xa, Đột-quyết, họ Úc Cữu Lư (tên khác là Mộc Cốt Lư, Thủ Ngốc Nghĩa, vì danh từ đó với từ Úc Cữu Lư có âm gần nhau nên con cháu đời sau lấy làm họ). Bộ lạc Nhu Nhiên dấy khởi vào thời Hậu Ngụy mà Thỉ tổ là lính kỵ binh tên là Mộc Cốt Lư. Nguyên Mộc Cốt Lư có tội, chạy trốn vào trong núi, rồi tập hợp số người chạy trốn được hơn trăm người, đến đời con là Xa Lộc Hội mới hình thành bộ lạc, tự lấy hiệu là Nhu Nhiên và bắt đầu có tộc Nhu Nhiên. Truyền qua bảy đời, đến đời con của Ôn Hột Đề16 là Xã Luân thì Nhu Nhiên lớn mạnh lên. Bộ lạc ấy đánh
 

14 Thập Dực Kiện (Kiền) 什翼鞬 (犍): Thập Dực Kiền (318-376 Tl.), tù trưởng họ Thác Bạt, tộc Tiên Ti, tức là tổ của Thác Bạt Khuê (Đạo Võ đế) triều Bắc Ngụy.
15 Âm Sơn 陰山: Phía Bắc huyện Dương Sơn, tỉnh Quảng Đông ngày nay.
16 Ôn Hột Đề 縕紇提, là thủ lãnh tộc Nhu Nhiên. Sau khi thân phụ ông mất, bộ chúng phân thành hai, ông thủ lãnh Tây bộ. Năm đầu niên hiệu Thái Nguyên đời Tấn (năm 376), ông phản Thát Bạt Tiên Ti theo Thiết Phất Lưu Vệ Thìn (?-391, thủ lãnh Hung Nô thời Thập lục quốc). Năm thứ 16, bị Thác Bạt Khuê đánh, phải di dời đến Vân Trung (nay thuộc vùng Thác Khắc Thác nội Mông Cổ). Năm thứ 19, con ông là Xã Luân lánh về Tây, còn ông không rõ ở nơi nào.
 
chiếm các bộ lạc ở phía Tây Ngũ Nguyên (huyện Ngũ Nguyên, tỉnh Tuy Viễn ngày nay), khiến họ phải chạy ra phía Bắc sa mạc, rồi đoạt lấy đất Cao Xa (một dải Ô Lương Hải ở Tây bắc Ngoại Mông ngày nay), cư trú ở đó, tự xưng là Đậu Đại Khả Hãn. Ô Tôn cũng bị Nhu Nhiên xâm chiếm, chạy về phía Tây vào núi Thông Lĩnh. Từ đó núi Thiên Sơn trở ra Bắc, núi A-nhĩ-thái (Altai)17 trở về Nam hoàn toàn bị Nhu Nhiên xâm chiếm. Các nước vùng “Thiên sơn nam lộ” như Cao Xương, Yên Kỳ, Vu-điền v.v.... đều nô dịch thần phục Nhu Nhiên. Lịch sử nói nước ấy về phía Tây đến Yên Kỳ (nay là huyện Yên Kỳ tỉnh Tân Cương), phía Đông tiếp giáp với Triều Tiên, phía Nam đến tận Đại Thích,18 thường lấy Đôn Hoàng và Trương Dịch19 ở phương Bắc làm nơi gặp nhau. Có thể thấy vùng đất mà dân tộc Nhu Nhiên cai quản rộng như thế nào; thời đó nhằm thời An đế nhà Đông Tấn.
Đến năm Nghĩa Hy thứ 6 đời An đế nhà Đông Tấn (năm 410 Tl.), Xã Luân mất, người em theo ông là Đại Đàn tự lập Mâu Hãn Hột Thăng Cái Khả Hãn,20 là kẻ địch hùng mạnh của nhà Hậu Ngụy ở phương Bắc. Vào năm Nguyên Gia thứ 6 đời Tống Văn đế (năm 429 Tl.), Thái Võ đế nhà Hậu Ngụy thân chinh đại phá Nhu Nhiên, các bộ tộc Cao Xa tranh nhau làm phản, Nhu Nhiên đầu hàng Ngụy với binh chúng 30 vạn người, ngựa chiến hơn 100 vạn con, số tàn quân bị truy đuổi đến tận núi Trác Tà (phía Tây ngoài Mông Cổ), rồi bộ lạc tan rã, Đại Đàn lo buồn phẫn uất mà chết.
 

17 Núi A Nhĩ Thái 阿爾泰: Hoặc gọi A Nhĩ Thản, nghĩa của tiếng Mông Cổ là “Kim” (vàng), nhân đó cũng gọi là Kim Sơn.
18 Đại Thích 大磧: Đại sa mạc.
19 Trương Dịch: Xem cht. 24, tr. 155.
20 Mâu Hãn Hột Thăng Cái Khả Hãn 牟汗紇升蓋可汗, nghĩa là ông vua chiến thắng.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »