gắn bó với sự quang vinh của Phật giáo, và trên phương diện văn hóa Phật giáo nó luôn thỉ chung hỗ tương qua lại với Trung Quốc. Ở những vùng đất ấy, đội thám hiểm Trung Á các nước phát hiện được nhiều tư liệu khảo cổ rất phong phú và giá trị. Nếu chúng ta khảo sát những vật phẩm khai quật được thì có thể nhận ra hệ thống Phật giáo ở ba nước ấy không giống nhau, rồi từ đó diện mạo văn hóa Phật giáo trong mỗi nước cũng phát sinh nhiều nét bất đồng, dị biệt, cho nên mỗi nước đã chiếm một địa vị quan trọng trong lịch sử Phật giáo.
II. NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO Ở ĐÔNG TURKESTAN
Đạo Phật khởi nguyên từ Ấn Độ, theo dòng thời gian vượt lần ra khỏi ranh giới đất mẹ, rồi trở thành hình thái tiếp xúc với nhiều dân tộc. Nhưng không đơn giản như vậy, đầu tiên vào khoảng năm 260 trước kỷ nguyên Tây lịch, đại vương Asoka thống nhất Ấn Độ, lấy việc truyền bá Phật giáo làm sự nghiệp của quốc gia. Ông sai phái nhiều vị tu sĩ đến các nước bên ngoài truyền bá Phật giáo. Theo sự ghi chép trong Nam phương Phật truyện (xem Dīpavaṃsa16 VIII, Mahāvaṃsa17 XII, Thiện kiến luật tỳ-bà-sa quyển II) thì lúc đó có mười tám vị Cao tăng được phái đi đến chín nơi. Nơi mở đầu con đường cho Phật giáo truyền pháp về phía Đông
16 Dīpavaṃsa (Pāli), dịch là “Đảo sử” hay “Đảo vương thống sử”, “Châu sử”. Bộ sử thi này được biên soạn vào thế kỷ IV, V, không rõ Tác giả. Đây là bộ sử thi biên niên xưa nhất của Tích Lan được ghi chép bằng tiếng Pāli, hiện còn lưu giữ.
17 Mahāvaṃsa (Pāli), dịch “Đại sử”, “Đại vương thống sử”. Bộ sử Phật giáo Tích Lan do ngài Ma-ha-na-ma (Pāli. Mahānāma) biên soạn vào cuối thế kỷ thứ V.