Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 7: II. Nguồn gốc và sự phát triển Phật Giáo ở Đông TURKESTAN (Trang 52 - 58)

gắn bó với sự quang vinh của Phật giáo, và trên phương diện văn hóa Phật giáo nó luôn thỉ chung hỗ tương qua lại với Trung Quốc. Ở những vùng đất ấy, đội thám hiểm Trung Á các nước phát hiện được nhiều tư liệu khảo cổ rất phong phú và giá trị. Nếu chúng ta khảo sát những vật phẩm khai quật được thì có thể nhận ra hệ thống Phật giáo ở ba nước ấy không giống nhau, rồi từ đó diện mạo văn hóa Phật giáo trong mỗi nước cũng phát sinh nhiều nét bất đồng, dị biệt, cho nên mỗi nước đã chiếm một địa vị quan trọng trong lịch sử Phật giáo.
II. NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO Ở ĐÔNG TURKESTAN
Đạo Phật khởi nguyên từ Ấn Độ, theo dòng thời gian vượt lần ra khỏi ranh giới đất mẹ, rồi trở thành hình thái tiếp xúc với nhiều dân tộc. Nhưng không đơn giản như vậy, đầu tiên vào khoảng năm 260 trước kỷ nguyên Tây lịch, đại vương Asoka thống nhất Ấn Độ, lấy việc truyền bá Phật giáo làm sự nghiệp của quốc gia. Ông sai phái nhiều vị tu sĩ đến các nước bên ngoài truyền bá Phật giáo. Theo sự ghi chép trong Nam phương Phật truyện (xem Dīpavaṃsa16 VIII, Mahāvaṃsa17 XII, Thiện kiến luật tỳ-bà-sa quyển II) thì lúc đó có mười tám vị Cao tăng được phái đi đến chín nơi. Nơi mở đầu con đường cho Phật giáo truyền pháp về phía Đông
 

16 Dīpavaṃsa (Pāli), dịch là “Đảo sử” hay “Đảo vương thống sử”, “Châu sử”. Bộ sử thi này được biên soạn vào thế kỷ IV, V, không rõ Tác giả. Đây là bộ sử thi biên niên xưa nhất của Tích Lan được ghi chép bằng tiếng Pāli, hiện còn lưu giữ.
17 Mahāvaṃsa (Pāli), dịch “Đại sử”, “Đại vương thống sử”. Bộ sử Phật giáo Tích Lan do ngài Ma-ha-na-ma (Pāli. Mahānāma) biên soạn vào cuối thế kỷ thứ V.
 
 là Thế giới Du-na18 (Yona-loka), tức là lãnh thổ phía Tây bắc Ấn Độ, chỗ ở của người Yavana (người Hy Lạp), rồi đến Mahārakkhita, Kasmir và Gandhāra (Kiền-đà-la). Những nơi ấy đều do Đại đức Mạt-điền-đề (Majjhantika) và một số vị mang sứ mệnh truyền bá giáo pháp. Ở đó, họ kiến lập đạo tràng, tạo được thành công lớn trên phương diện truyền giáo.
Lúc bấy giờ, vì người Yavana (người Hy Lạp) đều lưu trú tại Afghanistan ngày nay, nên việc truyền bá Phật giáo không chỉ phổ cập ở các vùng thuộc lưu vực sông Kabul (Cao-phụ), mà người truyền đạo còn phải vượt qua ngọn Đại Tuyết đi đến nước Đại Hạ để truyền giáo. Làm sao thấy được điều ấy? Là nhờ căn cứ vào sắc lệnh của vua Asoka khắc trong bia đá số 13, ghi rằng:
Khoảng năm 262, hoặc năm 263 trước Tây lịch, Seleukos Nikator19 làm quốc vương Syria. Khoảng năm 250 trước kỷ nguyên Tây lịch, Seleukos Nikator thôn tính Đại Hạ, nhưng đến đời Antiochos Theos20 thì lãnh thổ của ông mới được giáo pháp truyền đến. Sông Oxus (Ô-hử) của Đại Hạ tức là lưu vực sông Amu Darya21 ngày nay, đất đai mầu mỡ, từ xưa đến nay vùng ấy luôn thịnh vượng phát triển. Theo ông Strabo22 ghi chép, đất ấy có cả ngàn đô thị, từng là lãnh thổ của vương quốc Ba-tư. Đồ trang sức ở Ariana (lãnh thổ phía Đông của Ba-tư cổ đại) trong vương quốc Ba-tư rất
 

18 Thế giới Du-na: Xem cht. 28, tr. 24.
19 Seleukos Nikator, gọi đủ là Seleukos I Nikator. Seleukos nghĩa là người chiến thắng, ông là người sáng lập vương triều Seleukos ở Syria.
20 Antiochos Theos, là Antiochos II Theos, cháu Seleukos I Nikator, con của Antiochos I Soter, vị vua thứ ba của vương quốc Seleukos.
21 Sông Amu Darya: Xem cht. 19, tr. 20.
22 Strabo (Tư-đặc-la-bố 斯特羅布, 64 trước Tl. – 21 sau Tl.),  là nhà Địa lí học, Lịch sử học người Hy Lạp.
 
 nổi tiếng, là loại phục sức của người đời. Khi đại đế Alexander đông chinh, đánh dẹp thế lực của Ba-tư, chiếm lấy các nước trên, ông che chở giúp đỡ người Đại Hạ nên họ đã dung nạp văn hóa Hy Lạp, thậm chí gần như bị đồng hóa. Đó là một đất nước ở phương Đông trở thành trung tâm của văn minh Hy Lạp.
Sau đó, Alexander đại đế quay về Tây,23 ông sai Seleukos đến đó đảm đương nhiệm vụ thống trị. Thời vua Asoka tương đương với thời thống trị của cháu Seleukos là Antiochos Theos, nên Phật giáo ở nước đó được truyền bá rộng rãi, vì vậy mà nền tảng kiên cố của Phật giáo đã có rất lâu. Ở Trung Quốc gọi Yêu giáo, chính là tôn giáo Zorathushtra24 của Ba-tư, nhưng thời đó đã bị Antiochos Theos đuổi đi, đồng thời ông đã trợ giúp cho thế lực Phật giáo phát triển lớn mạnh, đó là sự thật không nghi ngờ gì. Cho nên ở phía Tây nam ngoài thành nước Phược-hát,25 ngài Huyền Trang còn nhìn thấy Tăng-già-lam Nạp-phược (Nava-Saṁghārāma, Tây Vực ký quyển 1)26 do tiên vương của nước ấy kiến lập. Khoảng năm 248, hoặc năm 250 trước
 

23 Ông liên tiếp chinh phục Asia Minor, Syria, Ai Cập, Ba-tư. Năm 326 trước Tây lịch, ông vượt sông Ấn đánh nước Ấn…, lại đánh Purus, rồi thúc quân tiến tới phía Đông, thẳng đến miền Đông Beas. Tới đây quân binh không chịu tiến thêm nữa, ông bèn quay về Tây. Năm 323 trước Tây lịch, ông về đến thành Babylon chưa được bao lâu thì mất.
24 Zorathushtra: Từ gốc “Zoroaster”, biến thể “Zarathustra”, “Zoroastrianism” (n), “Zoroastrian” (adj), dịch “Yêu giáo”, “Bái hỏa giáo”, “Hỏa giáo”. Tôn giáo này do nhà tiên tri Zarathustra, người Ba-tư sáng lập, xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ X, đến thế kỷ thứ VI trước Tl. (628?-551? trước Tl.).
25 Nước Phược-hát 縛喝國: Skt. Bokhara, một trong những nước ở Tây Vực. Nay là thành phố Balkh, phía Nam sông Oxus.
26 Tây vực ký 1, T51n2087_p872c01.
 
 Tây lịch, Antiochos Theos phản Hy Lạp, chiếm cứ các vùng thuộc lưu vực sông Oxus. Trung Quốc gọi Đại Hạ, là chỉ Diodotos đời thứ nhất,27 hoặc chỉ cho nước Đại Hạ do vua Đại Hạ kiến lập sau đó. Sau khi Đại Hạ độc lập, trải qua 50 năm, người thừa kế đời thứ ba là anh em hoặc thân tộc thuộc dòng dõi vua Euthydemos, vị đại vương ấy chính là Menander,28 quốc vương Đại Hạ khoảng giữa thế kỷ thứ II trước Tây lịch. Nhưng có một số học giả cho nhân vật ấy cùng với vua Di-lan trong kinh Na-tiên Tỳ-kheo (Milindapañhā) là một người. Thấy trên tiền tệ có in tượng Phật, chúng ta có thể xác minh ông ta là một người tin Phật giáo. Do đó, Tăng-già-lam mà ngài Huyền Trang nhìn thấy chính là kiến trúc của nhà vua. Bất luận như thế nào, việc nhà vua xâm nhập vào nội địa Ấn Độ là một sự kiện lịch sử rõ ràng. Đồng thời lúc bấy giờ, con trai của Euthydemos là Dementrios chinh phục phía Nam, chiếm một phần lớn Afghanistan và các vùng Punjab ở Bắc Ấn Độ, nhân đó Đại Hạ và Ấn Độ mới có mối quan hệ mật thiết về chính trị. Truyện Đại Uyển trong Sử ký ghi chép, người nước ấy phát triển thương mại, địa phương của họ chỉ cách nhau một trái núi Đại Tuyết, vượt qua núi ấy là đến Kabul. Do vậy mà việc giao thông thương nghiệp giữa nước này với miền Tây bắc Ấn Độ rất phồn thịnh. Từ thời vua Asoka truyền giáo đến các nước trở về sau, Phật giáo du nhập vào biên giới Tây bắc Ấn Độ là điều chắc chắn. Vì dựa vào sự thật lịch sử là Tăng nhân truyền giáo từ trước đã từng vượt qua núi Đại Tuyết để đi đến nước ấy. Khoảng năm 80 đến năm 60 trước Tây lịch có ghi chép rõ, lúc bấy giờ Alexander Polyhistor ở
 

27 Diodotos đời thứ nhất là phó vương của Antiochos II Theos, nổi loạn năm 255 trước Tl., rồi thành lập vương quốc Hy Lạp-Đại Hạ (Bactria).
28 Menander (Menandros): Skt=Pāli, Milinda, dịch âm Di-lan-đà.
 
Đại Hạ báo cáo nước đó có “Sa-môn-na” (Sāmaṇera),29 tức là Tăng lữ Phật giáo trú ngụ và văn thư tìm thấy có thể làm chứng cứ.30 Mặc dù danh xưng “Sa-môn” ở Ấn Độ xa xưa thuộc về Phật giáo, và những người xuất gia tôn giáo khác cũng có thể dùng thông dụng, nhưng từ khi các vị Sa-môn đến các dân tộc khác truyền giáo thì danh xưng ấy hoàn toàn chỉ cho Tăng lữ Phật giáo.
Từ lúc Yêu giáo bị ngược đãi, thế lực Phật giáo ở Đại Hạ nhanh chóng khuếch trương lan rộng. Hai nước An Tức và Khương Cư (Sogdiana và Kirghiz)31 tiếp giáp với Đaị Hạ, trên phương diện chính trị và thương nghiệp giao thiệp qua lại rất mật thiết, nhờ mối quan hệ như thế mà Phật giáo cũng lưu truyền đến hai nước ấy. Từ năm 91 trước Tây lịch trở về trước, hai nước An Tức và Khương Cư thần phục Đại Hạ, mãi đến trước sau kỷ nguyên Tây lịch, dân tộc Đại Nguyệt Thị mới vượt qua sông Amu Darya xâm chiếm Đại Hạ, Đại Hạ càng được Phật giáo cảm hóa, dần dần trở thành trung tâm Phật giáo của các nước phía Bắc núi Đại Tuyết, một thời được gọi là “Tiểu thành Vương Xá”. Qua chứng cứ Kinh lục, Tăng truyện của Trung Quốc, chúng ta biết được, từ giữa thế kỷ thứ II Tây lịch, những Tăng lữ và cư sĩ Phật giáo ở Đại Nguyệt Thị, An tức, Khương Cư lần lượt đến phương Đông thực hiện hoằng nguyện truyền giáo. Bắt đầu từ đó cho đến
 

29 Sa-môn-na 沙門那: Skt. Śrāmaṇera, Pāli. Sāmaṇera. Chuyển âm theo phương ngôn Tây Vực là Thất-la-mạt-noa v.v…, dịch âm Sa-môn-na, Sa-môn v.v…, nghĩa “Cần mẫn”, “Tu đạo”, “Bần đạo” v.v…
30 Ch. Lassen: Indische Allerthumskunde, II. S. 1073. (cht. Tg)
31 Sogdiana và Kirgbir: Sogdiana – An Tức, xem bài “Phật giáo và Tây Vực”, tr. 18. “Kirghiz” (Kirgiz) – Khương Cư, dịch âm Cát-nhĩ-cát-tư 吉爾吉斯. Nước Khương Cư 康居 là một nước xưa ở Tây Vực, do bộ tộc du mục Thổ-nhĩ-kì kiến lập, kéo dài từ hạ lưu sông Tích-nhĩ đến bình nguyên Kirgiz (xem thêm bài Phật giáo và Tây Vực, tr. 18).
 
đầu thế kỷ thứ IV Tây lịch thì dừng lại. Tây Turkestan, Afghanistan và miền Bắc Ba-tư là những nước được cho là một thời Phật giáo truyền bá rất hưng thịnh. Khảo cứu kinh điển Phật giáo từ các nước ấy truyền vào Trung Quốc thì biết Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa tuy hỗn tạp nhưng Đại thừa vẫn chiếm ưu thế hơn.
Sau sự thành công truyền giáo của ngài Mạt-điền-đề, Phật giáo ở Ca-thấp-di-la và Kiền-đà-la thường bị tộc Krita áp bức ngược đãi.32 Đến giữa thế kỷ thứ I Tây lịch, những nơi ấy đều qui vào bản đồ của Đại Nguyệt Thị, từ đó Phật giáo cũng dần dần hưng vượng lại. Đến thế kỷ thứ II Tây lịch, thời vua Kaniṣka thì Phật giáo hưng thịnh đến cực điểm, vì Kiền-đà-la lúc bấy giờ là trung tâm thống trị của vua Kaniṣka. Sau khi Phật giáo phát triển cực thịnh thì nơi đó trở thành trung tâm Phật giáo. Đến thế kỷ thứ V Tây lịch, đà phát triển của Phật giáo lại tiếp tục hưng thịnh, cho nên thời kỳ đầu ngài Pháp Hiển chu du Ấn Độ, thấy việc truyền bá Phật giáo ở các nước rất thịnh. Nhưng từ xưa đến nay, giáo phái ở những nước ấy dường như bị Tiểu thừa chiếm hữu, hiện nay nếu chúng ta đọc lại Phật quốc ký33 của ngài Pháp Hiển đều thấy ghi lại đầy đủ chi tiết. Do đó từ thế kỷ thứ IV Tây lịch, đất nước ấy
 

32 Tây Vực ký 3 ghi, khi ngài Mạt-điền-đề (Mạt-điền-để-ca) xây dựng 500 ngôi già-lam ở nước Ca-thấp-di-la, ngài đến các nước khác mua những người nghèo hèn về làm lao công. Sau khi ngài thị tịch, những người nô lệ đó tự lập Quân trưởng, các chủng tộc khác gọi họ là Cật(Ngật)-lợi-đa (訖利多, Skt. Krīta, dịch là “mua được” hay “nô lệ”). Về sau, vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka) nước Kiền-đà-la hàng phục chủng tộc đó, chấn hưng Phật pháp. Khi vua Ca-nị-sắc-ca mất, tộc Cật-lợi-đa nổi dậy xua đuổi Tăng đồ, hủy hoại Phật pháp.
33 Phật quốc ký, còn gọi là Cao tăng Pháp Hiển truyện, Phật du thiên trúc ký…, do ngài Pháp Hiển ghi lại lúc đi qua các nước Tây Vực đến Ấn Độ cầu pháp, 1 quyển. T51n2085.
 
mới bắt đầu có sự giao thiệp tôn giáo trực tiếp với Trung Quốc, nhiều Cao tăng nối gót đi đến Trung Quốc, giáo nghĩa chủ yếu trong sự truyền bá của họ là Tiểu thừa. Kinh điển họ đọc tụng, hoặc phiên dịch đều là Tiểu thừa. Hiện nay nếu chúng ta dựa vào một số kinh Phật để phán đoán thì có thể biết đương thời tông phái thịnh hành tại đó là Thuyết nhất thiết hữu bộ (hoặc gọi Hữu bộ, hay gọi là Tát-bà-đa bộ, Sarvāstivāda). Vua Kaniṣka là người bảo hộ Hữu bộ nên những vị Thánh tăng Thế Hữu (Vasumitra), Pháp Cứu (Dharmatrāta), Hiếp tôn giả (Pārśva) ở Kiền-đà-la đều xuất gia theo Hữu bộ. Tại nước Ca-thấp-di-la biên tập một bộ Đại tỳ-bà-sa luận, sự nghiệp ấy phát động vào thời vua Kaniṣka trở về sau là điều không cần hoài nghi.34 Lúc đó giáo nghĩa Hữu bộ rất thịnh hành, khiến uy thế giáo phái phát triển phi thường, đại sư Hữu bộ ở nước ấy đời sau tiếp nối xuất hiện không dứt.
Trong nước đó lại có hai vị đại thiền sư là Phú-nhã-mật-la (Puṇyamitra) và đệ tử của ngài là Phú-nhã-la (Punyara) thông đạt thiền đạo, đều hành đạo trong khoảng thế kỷ thứ IV Tây lịch. Đến thời ngài Đàm-ma-đa-la (Dharmatrāta) và Phật-đà-tư-na (Buddhasena) là giáo chủ thứ ba, tín đồ quy ngưỡng theo về rất đông, nước ấy trở thành trung tâm Thiền giáo ở vùng Tây Vực.35 Từ thế kỷ thứ V Tây lịch, trong số Sa-môn nước ấy đến Trung Quốc rất nhiều người thông đạt đạo thiền.
Nhưng đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, theo hệ thống kinh điển Tiểu thừa do nước này truyền vào Trung Quốc thì có lẫn lộn ít nhiều kinh điển Đại thừa, vì lúc bấy giờ nước Kiền-đà-la có
 

34 Nghiên cứu A-tỳ-đạt-ma luận của Mộc Thôn Thái Hiền, trang 205-48. (cht. Tg)
35 Bài tựa kinh Tu hành địa bất tịnh quán, do Tuệ Quán soạn ghi ở trong Xuất tam tạng ký tập, quyển 9. (cht. Tg)
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »