Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 26: Sự hưng khởi của tộc Đột -quyết (Trang 199 - 203)

Con ông ấy là Ngô Đề vào triều cống với Ngụy. Các nước Tây Vực cũng kế tục nhau vào triều cống. Sau đó Nhu Nhiên chấn hưng lại, vào năm Đại Minh thứ 4 đời Hiếu Võ đế nhà Tống (năm 460 Tl.), họ lại đánh phá Cao Xương, lập Hám Bá Châu làm vua Cao Xương. Năm Thái Thỉ thứ 6 đời Tống Minh đế (năm 470 Tl.) lại tấn công Vu-điền, sứ giả Vu-điền cầu cứu với Hậu Ngụy, báo cho biết các nước Tây Vực đều thuộc hết về Nhu Nhiên. Từ Ngô Đề truyền được năm đời đến Phục Hồ, vào năm Thiên Giám thứ 5 thời Lương Võ đế (năm 506 Tl.), cùng với Cao Xa đánh nhau ở Bồ Loại Hải (Nay là hồ Ba Lý Khôn, huyện Trấn Tây tỉnh Tân Cương), Phục Hồ bị giết chết. Con là Xú Nô lên thay phá tan Cao Xa, thế lực chợt mạnh lên, đầu tiên phụng sự nhà Ngụy rất cung kính, đến lúc nhà Ngụy chia cắt Đông, Tây thì Văn đế của Tây Ngụy cưới con gái ông ấy làm hậu, thừa tướng Đông Ngụy là Cao Hoan cưới con gái Nhu Nhiên (Nhuyễn Nhuyễn công chúa) làm thất (vợ), hai bên hòa thân. Về sau Đột-quyết hưng khởi, vào năm đầu niên hiệu Thiệu Thái đời Lương Kính đế (năm 555 Tl.), Mộc Chữ Khả Hãn của Đột-quyết đánh Nhu Nhiên, Đặng Thúc Tử chạy sang Tây Ngụy, Thái sư Vũ Văn Thái nhận lời thỉnh cầu của Đột-quyết, bắt hơn ba ngàn người từ Thúc Tử trở xuống giao cho sứ giả Đột-quyết và bị giết hết ở Thanh Môn (cửa Đông nam thành Trường An), Nhu Nhiên diệt vong.
Sự hưng khởi của tộc Đột-quyết:
Thời Hán, Hung Nô ở phía Bắc bị nhà Hán đánh bại, sau khi chạy về phía Tây, đất để lại bị các bộ tộc Tiên Ti, Nhu Nhiên v.v.... chiếm cứ, rồi Tiên Ti xuống miền Nam, còn Nhu Nhiên trước khi bị diệt thì ở dải đất trung tâm châu Á. Đột-quyết lại hưng khởi, tộc này về nguyên lai truyền thuyết
cũng giống như các tộc khác, Châu thư,21 Bắc sử, Tùy thư22 đều có ghi chép rõ ràng, một thuyết cho là chủng tộc khác của Hung Nô, họ A Sử Na,23 tách thành bộ lạc riêng, sau bị lân quốc đánh phá, tận diệt họ tộc ấy; nhưng có một đứa trẻ còn sống sót, sinh ra mười đứa con mà A Sử Na là một đứa trong số ấy, con cháu sinh sôi nhiều gọi là Nhuyễn Nhuyễn (Nhu Nhiên) đoàn thiết (rèn sắt), cư trú ở phía Nam núi Kim Sơn (nay là núi A-nhĩ-thái). Núi Kim Sơn hình giống như cái mũ trụ24 nên gọi là Đột-quyết. Hoặc có thuyết nói rằng, Đột-quyết vốn có nguồn gốc từ nước Sách, người lớn của bộ lạc ấy có từ sáu đến mười vợ, A Sử Na là con của người vợ nhỏ. Tóm lại bộ tộc này ở phía Bắc Hung Nô, xa đến Tây Hải (Lý Hải25 hoặc là hồ Balkhash)26 thuộc Hung Nô, trải rộng mênh mông đến phía Nam núi A Sơn. Sau đó, Thổ Môn27 mạnh dần lên, bắt đầu thông hôn với Hậu Ngụy, tộc ấy cầu hôn với Nhu Nhiên, Nhu Nhiên cự tuyệt, gọi tộc ấy là: “Thiết nô (nô lệ làm thợ rèn) của ta, sao dám nói ra lời đó”. Đến năm đầu niên hiệu Thừa Thánh, đời Hiếu Nguyên đế nhà Lương (năm 552 Tl.), Thổ Môn phát binh đánh Nhu
 

21 Châu thư 周書: Sách sử thời Bắc Châu, 50 quyển, do Linh Hồ Đức Phần v.v… phụng sắc biên soạn vào đời Đường.
22 Bắc sử, xem cht. 46, tr. 32. Tuỳ thư, xem cht. 47, tr. 33.
23 Họ A Sử Na 阿史那氏: A Sử Na là họ thủy tổ Đột-quyết. Thời xưa, Đột-quyết có 10 họ đều lấy theo họ người mẹ (mẫu hệ), “A Sử Na” là một trong những họ đó.
24 Mũ trụ (兜鍪 đâu mâu): Mũ sắt, mũ đội đánh trận thời xưa.
25 Lý Hải 裏海: E. Caspian Sea, hồ lớn nhất thế giới, vị trí giữa miền Tây Trung Á và núi Kavkaz.
26 Hồ Balkhash (Ba-nhĩ-khách-thập 巴爾咯什), là hồ nước mặn phía Đông nam nước Cộng hòa Kazakhstan Trung Á của Nga.
27 Thổ Môn 土門: Tên bộ lạc Đột-quyết. Cuối đời Hậu Ngụy, bộ lạc này hưng thịnh dần và bắt đầu thông giao với Trung Quốc, tự lấy hiệu Y Lợi Khả Hãn.
 
 Nhiên, Nhu Nhiên thất bại, Đầu Binh Khả Hãn tự sát. Từ đó Thổ Môn tự xưng là Y Lợi Khả Hãn. Ba năm sau tận diệt Nhu Nhiên, tóm thâu đất ấy. Đồng thời em của Thổ Môn là Thất Điểm Mật thống soái mười đại đầu lĩnh, với mười vạn người đánh úp Tây Vực, tự xưng là Khả Hãn, hiệu là bộ lạc Thập Tính (mười họ), đó là Tây Đột-quyết Khả Hãn, cũng là Thỉ tổ của bộ lạc Thập Tính.
Về sau Thổ Môn mất, con là Ất Tức Ký Khả Hãn lên thay. Ất mất, em là Sĩ Cân (tên khác là Yên Đô) lên thay, đó là Mộc Chữ Khả Hãn. Mộc Chữ đánh Nhu Nhiên, kiến thiết vương triều28 ở núi Đô Cân (biên giới phía Nam Tam Âm Nặc Nhan Hãn, bên ngoài Mông Cổ ngày nay), đồng thời phía Tây phá tan Áp-đạt29 (vùng đất riêng của Đại Nguyệt Thị, vị trí hiện nay thuộc núi Badakhshan), phía Đông đuổi Khiết Đan,30 phía Bắc bình định Kết Cốt31 (tức là Kiên Côn, hoặc Hiệt Kiết Tư), phía Nam thu phục Thổ-cốc-hồn,32 cương vực mở rộng, phía Đông đến tận Liêu Đông, phía Tây đến Tây Hải (Lý Hải) rộng hàng vạn dặm, phía Nam đến Đại Mạc,33 phía Bắc tận bờ Bắc Hải (hồ Baikal ngày nay),34 dọc
 

28 Hán: Kiến nha 建牙. Thời xưa khi hưng binh xuất quân, Võ thần xuất quân, đứng trước đại kỳ (cờ), hoặc bộ tộc thiểu số kiến thiết vương triều nơi nào đều gọi là kiến nha.
29 Áp-đạt: Xem cht. 4, tr. 121.
30 Khiết Đan 契丹: Một bộ tộc ở phương Bắc cổ đại, thuộc hệ tộc Đông Hồ, ngôn ngữ có chỗ tương đồng với cổ ngữ Mông Cổ.
31 Kết Cốt 結骨: Bộ tộc cổ đại, cư trú ở phương Bắc Hung Nô, nay là thượng du sông Yenisey. Thời xưa gọi Kiên Côn, đến đầu đời Đường gọi là Kết Cốt, năm thứ 22 niên hiệu Trinh Quán đổi hiệu Hiệt Kiết Tư.
32 Thổ-cốc-hồn 吐谷渾: Bộ tộc ở Tây bắc thời cổ đại, chi nhánh họ Mộ Dung của tộc Tiên Ti ở Liêu Đông. Tổ tiên họ cư trú ở Thanh Sơn nay thuộc tỉnh Liêu Ninh.
33 Đại Mạc: Xem cht. 32, tr. 163.
 
 
suốt 5, 6 ngàn dặm. Lại ra lệnh cho con của Thất Điểm Mật là Đạt Đầu Khả Hãn cư trú ở phía Tây Thiên Tuyền (nay là phía Bắc Taskhent),35 cai quản hết các bộ tộc ở phương Tây, Thiên sơn bắc lộ cũng ở trong phạm vi thế lực của họ.
Năm Thái Kiến thứ 4 thời Trần Tuyên đế (năm 572 Tl.), Mộc Chữ mất, lập em là Đà Bát làm Khả Hãn, con ông ấy là Đại La Tiện chẳng phục. Đang lúc thịnh thế, Bắc Tề cát cứ phương bắc, Bắc Châu giành lấy công chúa Tệ Bạch theo phò Đột-quyết, Đà Bát từng nói: “Chỉ cần ta ở mặt Nam, hai con luôn hiếu thuận, lo gì không có vật ấy?” (Bắc sử quyển 99) Chưa bao lâu thì Đà Bát mất, con là Am La lên thay, Mộc Chữ Đại La Tiện chẳng phục, Am La sợ nhường ngôi cho con là Y Lợi Khả Hãn, tức là Nhiếp Đồ, hay gọi Sa Bát Lược Khả Hãn, lại lập Đại La Tiện làm A Ba Khả Hãn để vỗ về an ủi. Lúc này nhà Tuỳ rất hưng thịnh, sai Trường Tôn Thịnh36 dùng kế để ly gián Đột-quyết, về sau quả nhiên phân làm hai bộ phận Đông và Tây.
Đông Đột-quyết — vào năm Khai Hoàng thứ 4 đời Tuỳ Văn đế (năm 584 Tl.), Đạt Đầu Khả Hãn hàng nhà Tuỳ, Sa Bát Lược Khả Hãn cũng xin hoà hiếu thân thiện, nhà Tuỳ lại trợ giúp em của Sa là Mạc Hà Khả Hãn đánh A Ba Khả Hãn của Tây Đột-quyết. Sa mất, em là Xử La Hầu lên ngôi tức
 

34 Hồ Baikal (Bối-gia-nhĩ 貝加爾), vị trí phía Tây bộ Siberia hướng Đông nước Nga, giữa tỉnh Irkutsk oblast và nước Cộng hòa tự trị Buryat A. S. S. R.
35 Taskhent (Tháp-thập-can 塔什干), thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Uzbekskaja S.S.R.
36 Trường Tôn Thịnh 長孫晟: Trường Tôn Thịnh (552-609), tự là Quí Thịnh, người Lạc Dương, Hà Nam thời Tuỳ, đa mưu túc trí, võ nghệ siêu quần. Đầu đời Tuỳ, Đột-quyết Nam chinh, ông hiến kế sách ly gián các bộ tộc Đột-quyết. Văn đế giao cho ông hành sự.
 
Mạc Hà Khả Hãn. Mạc Hà mất, con của Sa Bát La là Ung Ngu Lư lên ngôi, là Đô Lan Khả Hãn.37 Nhà Tuỳ lại muốn ly gián họ nữa, con của Xử La Hầu là Nhiễm Can hiệu là Đột Lợi Khả Hãn ở phương Bắc sai sứ cầu hôn, được nhà Tuỳ đem công chúa An Nghĩa gả cho, còn Đô Lan cầu hôn thì cự tuyệt, do đó Đô Lan đánh Đột Lợi, cướp phá biên giới nhà Tuỳ, Đột Lợi chạy trốn vào Trung Quốc được phong làm Khải Dân Khả Hãn. Khải Dân Khả Hãn mất, con là Đốt Cát lên thay, đó là Thỉ Tất Khả Hãn. Vào năm Đại Nghiệp thứ 11 (năm 615 Tl.), Dương đế đi tuần thú phương Bắc bị Thỉ Tất vay khốn ở Nhạn Môn (tại tỉnh Sơn Tây ngày nay), được công chúa Nghĩa Thành cứu thoát. Lúc đó, thế lực nhà Tuỳ đã suy yếu, người theo về Đột-quyết rất đông, phía Đông của Thỉ Tất từ Khiết Đan, Thất Vi, về phía Tây đến tận Thổ-cốc-hồn, Cao Xương đều thần phục họ, xạ tiễn, binh lính hàng trăm vạn. Những kẻ cát cứ xưng hùng như Lưu Võ Châu, Vương Thế Sung v.v… đều quay mặt về phương Bắc xưng thần, sách vở đầu đời Đường đều ghi chép, có thể thấy sự hùng mạnh của thế lực ấy.
Tây Đột-quyết — khởi lên từ con của Mộc Chử là Đại La Tiện (A Ba Khả Hãn), sau khi bị Đông Đột-quyết bắt giết, nhân dân và chư hầu lập con của Ương Tố Đặc Lặc là Nê Lợi Khả Hãn, ông mất, con là Đạt Mạn lên thay, đó là Xử La Khả Hãn. Sau khi Xử La bị tiểu Khả Hãn của phương Tây là Xạ Quỹ đánh bại, Xạ tự lập làm Đại Khả Hãn, khai thác cương
 

37 Đô Lan Khả Hãn 都蘭可汗: Hay gọi Đô Lam Khả Hãn 都藍可汗 (?-599), là Đông Đột-quyết Khả Hãn (đời Tuỳ), tại vị từ năm 588-599 Tl., tên Ung Ngu Lư, hiệu Hiệt Ca Thi Đa Na Đô Lam Khả Hãn, con Sa Bát Lược Khả Hãn. Lúc đầu cùng Tuỳ thông hảo, sau nhà Tuỳ sai Trường Tôn Thịnh dùng kế ly gián nên cùng Nhiễm Can (Đột Lợi [Khải Dân] Khả Hãn) đánh nhau.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »