Và việc ngài Chu Sĩ Hành đem bản Phạn kinh Đại thừa về Trung Quốc, bị Tăng lữ phái Tiểu thừa cản trở gây hại, cho thấy thế kỷ thứ III, Đại thừa, Tiểu thừa đều có truyền bá ở Vu-điền là rõ ràng. Phật giáo cực thịnh đến như thế nhất định phải trải qua những năm tháng tương đương khá dài. Đó là do thời đại ngài Biến Chiếu truyền giáo đến Vu-điền tại thế kỷ thứ II, hoặc từ đó trở về trước. Thời kỳ tiền bán thế kỷ thứ II, là lúc vua Kaniṣka xuất hiện, thời đại Phật giáo Ấn Độ truyền bá ra khắp bốn phương. Vậy ngài Biến Chiếu truyền Phật giáo đến Vu-điền cũng có thể ở thời này.
VII. LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VU-ĐIỀN
Khảo chứng:
Ở đây, chúng tôi phác thảo vài điều được ghi chép giống nhau trong những sách như Cao tăng truyện, Lữ hành ký, Phật điển v.v…, để đủ tư liệu thuyết minh về tình hình Phật giáo Vu-điền có cái nhìn tổng hợp hơn.
1. Phật giáo Vu-điền thế kỷ thứ III — Đời Hậu Hán, ngài Chi-lâu-ca-sấm (Jokarakṣa) nước Nguyệt Thị, dịch kinh Đạo hạnh bát-nhã ra Hán văn, gồm 10 quyển, lưu hành ở đời. Đến thời thế kỷ thứ III, ngài Chu Sĩ Hành thường thích trì tụng kinh đó, lại còn dùng kinh đó để truyền dạy cho đệ tử. Nhân đó cảm thấy ý nghĩa văn dịch có chỗ chưa hết ý, ngài mới đích thân đi đến Tây Vực tìm cầu nguyên bản. Năm Cam Lộ thứ 5 (năm 260 Tl.), đời vua Cao Quý Hương Công thời Tào Ngụy, ngài Chu Sĩ Hành từ Trung Quốc xuất phát, đi vào lưu vực Tarim, được bản Phạn kinh Bát-nhã tại Vu-điền. Xuất tam tạng ký tập (quyển 2)25 chép rằng:
25 Xuất tam tạng ký tập 2, T55n2145_p7b08.
2. Phật giáo Vu-điền vào thế kỷ thứ V — Năm 401 Tây lịch, ngài Pháp Hiển đến Vu-điền, lưu lại 3 tháng. Pháp Hiển truyện đã thuật lại những điều mắt thấy tai nghe lúc đương thời:
“Nước ấy giàu thịnh an vui, nhân dân đông đúc, hết thảy đều phụng hành pháp, lấy pháp lạc làm vui. Chúng Tăng đến vài vạn người, đa số theo phái Đại thừa, mọi người đều no đủ. Nhân dân nước đó đông đúc, trước cửa nhà đều có dựng tháp nhỏ, cái nhỏ nhất cao đến 2 trượng; làm phòng ở cho Tăng tứ phương, cung cấp cho khách Tăng và những đồ cần dùng khác. Quốc chủ là An Đốn cấp cho ngài Pháp Hiển v.v… ở Tăng Già-lam. Ngôi Tăng Già-lam tên là Cù-ma-đế, đó là ngôi chùa Đại thừa. 3.000 vị Tăng vân tập ăn chung theo tiếng kiền chùy, khi vào nhà ăn, uy nghi chỉnh tề nghiêm túc, theo thứ lớp mà ngồi, tất cả lặng yên, không có tiếng bát đũa… (Ngài Pháp Hiển) lưu lại 3 tháng. Trong nước ấy có 14 ngôi Tăng Già-lam lớn, chẳng tính những ngôi nhỏ… Tăng Già-lam Cù-ma-đế là học phái Đại thừa, được nhà vua kính trọng…”
Vào đầu thế kỷ thứ 5, Phật giáo Đại thừa ở nước Vu-điền rất thịnh hành, Tăng chúng Đại thừa vài vạn người, chùa viện lớn thì có đến 14 ngôi. Trong số ấy, chùa Cù-ma-đế (Gomati) là ngôi tự viện lớn đứng hàng đầu. Quốc vương qui y ở chùa đó, có đến 300 vị Tăng Đại thừa. Tăng nhân trong nước tu hành nghiêm túc nên rất được sự tin yêu ngưỡng mộ của quân vương và nhân dân. Ngôi chùa Cù-ma-đế này cũng như ngôi tinh xá Ngưu Giác Sơn của ngài Huyền Trang ghi lại, là những ngôi tự viện nổi tiếng rất được sùng kính. Theo sự kể lại của ngài Pháp Hiển thì Tăng đồ có đến vài vạn người, phái Đại thừa chiếm đa số; nhưng ngài Huyền Trang nói rằng: