Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 61: VII. Lịch Sử Phật Giáo Vu-Điền (Trang 540 - 545)

Và việc ngài Chu Sĩ Hành đem bản Phạn kinh Đại thừa về Trung Quốc, bị Tăng lữ phái Tiểu thừa cản trở gây hại, cho thấy thế kỷ thứ III, Đại thừa, Tiểu thừa đều có truyền bá ở Vu-điền là rõ ràng. Phật giáo cực thịnh đến như thế nhất định phải trải qua những năm tháng tương đương khá dài. Đó là do thời đại ngài Biến Chiếu truyền giáo đến Vu-điền tại thế kỷ thứ II, hoặc từ đó trở về trước. Thời kỳ tiền bán thế kỷ thứ II, là lúc vua Kaniṣka xuất hiện, thời đại Phật giáo Ấn Độ truyền bá ra khắp bốn phương. Vậy ngài Biến Chiếu truyền Phật giáo đến Vu-điền cũng có thể ở thời này.
VII. LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VU-ĐIỀN
Khảo chứng:
Ở đây, chúng tôi phác thảo vài điều được ghi chép giống nhau trong những sách như Cao tăng truyện, Lữ hành ký, Phật điển v.v…, để đủ tư liệu thuyết minh về tình hình Phật giáo Vu-điền có cái nhìn tổng hợp hơn.
1. Phật giáo Vu-điền thế kỷ thứ III — Đời Hậu Hán, ngài Chi-lâu-ca-sấm (Jokarakṣa) nước Nguyệt Thị, dịch kinh Đạo hạnh bát-nhã ra Hán văn, gồm 10 quyển, lưu hành ở đời. Đến thời thế kỷ thứ III, ngài Chu Sĩ Hành thường thích trì tụng kinh đó, lại còn dùng kinh đó để truyền dạy cho đệ tử. Nhân đó cảm thấy ý nghĩa văn dịch có chỗ chưa hết ý, ngài mới đích thân đi đến Tây Vực tìm cầu nguyên bản. Năm Cam Lộ thứ 5 (năm 260 Tl.), đời vua Cao Quý Hương Công thời Tào Ngụy, ngài Chu Sĩ Hành từ Trung Quốc xuất phát, đi vào lưu vực Tarim, được bản Phạn kinh Bát-nhã tại Vu-điền. Xuất tam tạng ký tập (quyển 2)25 chép rằng:
 

25 Xuất tam tạng ký tập 2, T55n2145_p7b08.
 
“Vào năm Cam Lộ thứ 5, sa-môn Chu Sĩ Hành đi đến Vu-điền, chép được kinh này là ‘Phạm thư Hồ Bản’ Chính phẩm gồm 90 chương”.
Ngài Chu Sĩ Hành tìm thấy kinh Bát-nhã tại Vu-điền là bằng tiếng Phạn, tức là Thánh điển ngôn ngữ Sanskrit, được ghi chép bằng văn tự Brāhmi. Ngài Chu Sĩ Hành căn cứ vào sách này chép ra một bản sao, mang về Trung Quốc.
Đại Đường nội điển lục (quyển 2)26 nói rằng: Phạn bản kinh này ước chừng có 60.000 lời, ngài Chu Sĩ Hành mang về nước Trung Quốc, Tăng đồ Tiểu thừa Vu-điền kiến nghị với vua rằng: “Những kinh Đại thừa như kinh Bát-nhã v.v… là ngụy kinh, do tà thuyết hỗn nhập của ngoại đạo mà chế tác ra, đem kinh đó đưa cho Trung Quốc thì Phật giáo đồ Vu-điền sẽ không tránh khỏi trách nhiệm nhiễu loạn Phật giáo Trung Quốc.” Nhất thời, sự nghiệp của ngài Chu Sĩ Hành bị hãm vào tình thế khó khăn. Nhưng cuối cùng quốc vương cũng cho phép ngài đưa kinh về Trung Quốc.
Theo Khai Nguyên thích giáo lục quyển 227 nói: Năm Thái Khang thứ 3 đời Võ đế nhà Tây Tấn (năm 282 Tl.), đệ tử ngài Chu Sĩ Hành là Phất Như Đàn v.v… gồm 10 người đã mang kinh bản Phạn về đến Lạc Dương. Năm đầu niên hiệu Nguyên Khang đời Huệ đế, vị Tăng Vu-điền là Vô-xoa-la (Mokṣala) cùng ngài Trúc-thúc-lan gốc người Ấn Độ sinh ở Trung Quốc, dịch kinh đó ra Hán văn gồm 30 quyển, lấy nhan đề là kinh Phóng quang bát-nhã ba-la-mật-đa, tức nay là kinh Phóng quang bát-nhã.
 

26 Đại Đường nội điển lục 2, (Đường – Đạo Tuyên biên soạn, 10 quyển), T55n2149_p236a27.
27 Khai Nguyên thích giáo lục 2, T55n2154_p497c19.
 
2. Phật giáo Vu-điền vào thế kỷ thứ V — Năm 401 Tây lịch, ngài Pháp Hiển đến Vu-điền, lưu lại 3 tháng. Pháp Hiển truyện đã thuật lại những điều mắt thấy tai nghe lúc đương thời:
“Nước ấy giàu thịnh an vui, nhân dân đông đúc, hết thảy đều phụng hành pháp, lấy pháp lạc làm vui. Chúng Tăng đến vài vạn người, đa số theo phái Đại thừa, mọi người đều no đủ. Nhân dân nước đó đông đúc, trước cửa nhà đều có dựng tháp nhỏ, cái nhỏ nhất cao đến 2 trượng; làm phòng ở cho Tăng tứ phương, cung cấp cho khách Tăng và những đồ cần dùng khác. Quốc chủ là An Đốn cấp cho ngài Pháp Hiển v.v… ở Tăng Già-lam. Ngôi Tăng Già-lam tên là Cù-ma-đế, đó là ngôi chùa Đại thừa. 3.000 vị Tăng vân tập ăn chung theo tiếng kiền chùy, khi vào nhà ăn, uy nghi chỉnh tề nghiêm túc, theo thứ lớp mà ngồi, tất cả lặng yên, không có tiếng bát đũa… (Ngài Pháp Hiển) lưu lại 3 tháng. Trong nước ấy có 14 ngôi Tăng Già-lam lớn, chẳng tính những ngôi nhỏ… Tăng Già-lam Cù-ma-đế là học phái Đại thừa, được nhà vua kính trọng…”
Vào đầu thế kỷ thứ 5, Phật giáo Đại thừa ở nước Vu-điền rất thịnh hành, Tăng chúng Đại thừa vài vạn người, chùa viện lớn thì có đến 14 ngôi. Trong số ấy, chùa Cù-ma-đế (Gomati) là ngôi tự viện lớn đứng hàng đầu. Quốc vương qui y ở chùa đó, có đến 300 vị Tăng Đại thừa. Tăng nhân trong nước tu hành nghiêm túc nên rất được sự tin yêu ngưỡng mộ của quân vương và nhân dân. Ngôi chùa Cù-ma-đế này cũng như ngôi tinh xá Ngưu Giác Sơn của ngài Huyền Trang ghi lại, là những ngôi tự viện nổi tiếng rất được sùng kính. Theo sự kể lại của ngài Pháp Hiển thì Tăng đồ có đến vài vạn người, phái Đại thừa chiếm đa số; nhưng ngài Huyền Trang nói rằng:
“Già-lam hơn 100 ngôi, Tăng đồ hơn 5.000 người, đa số đều tu tập Đại thừa giáo.” Vậy thời ngài Huyền Trang, số Tăng nhân có giảm thiểu rõ rệt, kết quả này là do lãnh địa Vu-điền thu nhỏ lại, nhưng cũng có thể thấy thời ngài Pháp Hiển là thời đại Phật giáo thịnh vượng nhất ở Vu-điền.
Vị Tăng nhân Chi Pháp Lĩnh đi sang Vu-điền được kinh Hoa nghiêm bản Phạn gồm 3.600 kệ; năm Nghĩa Hi thứ 14 đời An đế nhà Đông Tấn (năm 418 Tl.), ngài Giác Hiền v.v… dịch kinh đó ra Hán văn, tức là “Lục thập Hoa nghiêm” ngày nay (Tham chiếu Xuất tam tạng ký tập quyển 2, Khai Nguyên thích giáo lục quyển 3). Vậy thời gian ngài Chi Pháp Lĩnh ở tại Vu-điền được bản Phạn kinh Hoa nghiêm nhất định là khoảng năm 414, hay 415 Tây lịch.
Căn cứ theo Lương cao tăng truyện (quyển 2),28 Khai Nguyên thích giáo lục (quyển 4),29 Ấn Độ có ngài Đàm-vô-sấm (Dharmarakṣa) mang theo kinh Đại niết-bàn bản Phạn từ bổn quốc qua Kế Tân, Qui-tư; rồi năm 411 Tây lịch (hoặc năm 412) đến Cô Tạng (Lương Châu ngày nay), nhận sự qui y của vua Tự-cừ-mông-tốn nhà Bắc Lương. Bắt đầu từ năm 414 Tây lịch, ngài dịch kinh Đại niết-bàn, năm sau thì hoàn thành. Bản Phạn mà ngài Đàm-vô-sấm mang theo chỉ là nửa phần trước của kinh văn, chưa đầy đủ, nên ngài xin trở lại Ấn Độ. Lưu lại một năm, ngài hướng về lưu vực sông Tháp-lý-mộc bắt đầu lên đường. Tại Vu-điền, ngài được bản Phạn nửa phần sau kinh văn, sao chép xong thì trở lại Cô Tạng. Năm 421 Tây lịch, ngài dịch xong toàn bộ kinh Đại niết-bàn gồm 40 quyển. Năm ngài Đàm-vô-sấm vào Vu-điền là năm 415, hay 416 Tây lịch. Đương thời, bản Phạn kinh Đại niết-bàn đã
 

28 Cao tăng truyện 2, T50n2059_p335c16.
29 Khai Nguyên thích giáo lục 4, p520a20.
 
tồn tại ở Vu-điền là một sự thật đủ để chứng minh, sự nghiên cứu học phái Đại thừa rất thịnh hành.
Căn cứ Lương cao tăng truyện (quyển 3)30 nói rằng: Vào tháng 11 năm đầu niên hiệu Cảnh Bình, đời Thiếu đế nhà Lưu Tống, vị Tăng Tiểu thừa Vu-điền là Trí Thắng, lấy bộ luật của Hóa địa (chưa dịch) mà ngài Pháp Hiển sở đắc khi trước ở Tích-lan, trợ giúp ngài Phật-đà-thập dịch ở Giang Nam, thành Ngũ phần luật gồm 34 quyển. Nếu vậy ngài Trí Thắng đi đến phía Nam sông Dương Tử phải vào năm 424 Tây lịch.
Khai Nguyên thích giáo lục (quyển 4) nói: Em họ của Tự-cừ-mông-tốn lãnh chúa Bắc Lương là Tự-cừ-kinh-thanh, kính cẩn phụng sự Phật giáo, vào Vu-điền, tại chùa Cù-ma-đế, theo vị Tăng Ấn Độ là Phật-đà-tư-na (Buddhasena) học tập Đại thừa và pháp thiền, về Cô Tạng (nay là Lương Châu), dịch ra Thiền pháp yếu giải 2 quyển trong thời gian Bắc Lương tồn tại từ năm 433 đến năm 439 Tây lịch. Vậy ngài Tự-cừ-kinh-thanh ở Vu-điền học tập Đại thừa và pháp thiền cũng nhất định vào thời đại này.
Theo Khai Nguyên thích giáo lục (quyển 6) chép, có 8 vị Tăng Lương Châu là Tuệ Giác, Uy Đức v.v… đến Vu-điền, ở trong một ngôi chùa lớn học tập tiếng Phạn, được kinh Hiền Ngu bản Phạn; năm Thái Bình Chân Quân thứ 6, đời Thái Võ đế nhà Hậu Ngụy (năm 445 Tl.), từ Vu-điền trở về đến nước Cao Xương, dịch thành 13 quyển. Lại có vị Tăng tên là Pháp Hiến, vào năm Nguyên Huy đời Hậu Phế đế nhà Lưu Tống (năm 475 Tl.), du hành Tây Vực, ở Vu-điền được bản Phạn và răng đức Phật, rồi về Trung Quốc. Khoảng năm Vĩnh
 

30 Cao tăng truyện 3, T50n2061_p339a05.
 
 Minh thời Tiêu Tề, vị ấy cùng với vị Tăng Tây Vực là Pháp Ý dịch phẩm Đề-bà-đạt-đa trong kinh Pháp hoa. Từ đây mà quan sát thì những kinh văn có được tại Vu-điền là những kinh điển Đại thừa như Bát-nhã, Hoa nghiêm, Niết-bàn, Pháp hoa v.v… cho đến cả pháp thiền. Cho nên việc nghiên cứu và tín ngưỡng Đại thừa đã có tại Vu-điền là rất rõ ràng. Ngoài những kinh điển Đại thừa này, còn có kinh điển Tiểu thừa như kinh Hiền Ngu v.v…, và có Tăng Tiểu thừa như ngài Trí Thắng v.v…, như vậy cũng có sự tồn tại của Tiểu Thừa.
3. Phật giáo Vu-điền thế kỷ thứ VII trở về sau — Tuệ Siêu truyện31 thuật về Phật giáo Vu-điền:
“Đủ chùa đủ Tăng, hành Đại thừa pháp, chẳng ăn thịt… Vu-điền có một ngôi chùa Hán tên là Long Hưng Tự; có một vị Tăng người Hán tên là…32 chủ ngôi chùa đó, vị chủ trì rất tốt; vị Tăng đó là một vị nhân sĩ của Ký Châu tỉnh Hà Bắc.”
Nhà Đại thừa cấm ăn thịt nên Tăng Đại thừa chẳng ăn thịt. Có chùa Hán tên là Long Hương Tự, thời đại Tuệ Siêu có một vị Tăng người Hán trụ trì. Theo Khai Nguyên thích giáo lục quyển 9 ghi: Vào năm đầu niên hiệu Vĩnh Xương đời Võ Hậu Tắc Thiên (năm 689 Tl.), vị Tăng Vu-điền tên là Thiên Trí (Devejñā), đi đến Lạc Dương, đến năm Thiên Thọ thứ 2 (năm 691 Tl.) phiên dịch 6 bộ kinh, luận. Theo truyện thì ngài Thiên Trí tinh thông cả Đại, Tiểu thừa, lại giỏi chú thuật và thiền quán, có dịch một phần của kinh Hoa nghiêm và Pháp giới vô sai biệt luận v.v…, đều là sách của Đại thừa giáo. Cùng sách trên lại chép: Võ Hậu Tắc Thiên nghi ngờ kinh Hoa nghiêm bản Hán dịch trước chưa phải là toàn bộ, lại
 

31 Du phương ký sao 1, T51n2089_p979b01.
32 Trong bản đại tạng đã khuyết danh, Tác giả trích dẫn lại nguyên văn.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »