Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 28: II. Địa Thế Và Tình Hình Các Nước Tây Vực (Trang 207 - 219)

“Thiên sơn bắc lộ” làm căn cứ, các nước vùng “Thiên sơn nam lộ” thường làm nô dịch cho họ.
II. ĐỊA THẾ VÀ TÌNH HÌNH CÁC NƯỚC TÂY VỰC
Vào cuối đời Hán, các nước Tây Vực phân chia hơn 50 nước. Đến thời Ngụy Tấn trở về sau, từ Tam quốc phân tranh, ngũ Hồ loạn Hoa, rồi cuộc đối đầu Nam-Bắc Triều, thẳng đến đời Tuỳ, các nước Tây Vực lớn nhỏ công phạt thôn tính lẫn nhau, tình huống rối loạn cũng giống như Trung Nguyên. Căn cứ trong “Ngụy lược”,49 “Tấn thư”,50 “Bắc sử”, “Nam sử”51 ghi chép chung về tình hình các nước, xin lược thuật lại như sau:
Nước Thiện Thiện: Thủ đô là Hãn Nê thành, là nước Lâu Lan xưa, sau nước ấy có các nước Thả-mạt,52 Tiểu Uyển,53 Tinh Tuyệt54 v.v…, địa khu bao quát có Nặc Khương,55 Thả-mạt và Đông bắc bộ Vu-điền ngày nay, ở phía Đông Tarim đại (sa mạc) Qua-bích.56           
 

49 Ngụy lược: Xem cht. 68. tr. 71.
50 Tấn thư: Xem cht. 44, tr. 32.
51 Nam sử 南史: Bộ sách sử gồm 80 quyển, do Lý Diên Thọ soạn thời Đường; ghi lại lịch sử thời Nam Triều, từ đời Tống đến đời Trần, 170 năm.
52 Thả-mạt 且末: Hiện nay trong sa mạc Gobi, phía Bắc huyện Thả-mạt tỉnh Tân Cương.
53 Tiểu Uyển 小宛: Vị trí hiện nay trong sa mạc, biên giới huyện Thả-mạt tỉnh Tân Cương.
54 Tinh Tuyệt 精絕: Phía Đông huyện Hòa-điền tỉnh Tân Cương ngày nay.
55 Nặc Khương 諾羌: Nay là huyện Nặc Khương tỉnh Tân Cương.
56 Tarim đại Qua-bích, Hán: Tháp-lý-mộc đại Qua-bích 塔里木大戈壁: 1- Tarim là thung lũng nội lục rộng nhất Trung Quốc, vây quanh giữa núi Thiên Sơn và Côn Lôn, trong có sa mạc Qua-bích (Gobi) (xem cht. 32, tr. 163). 2- Tarim cũng là tên con sông (xem thêm cht. 15, tr. 51).
 
Nước Vu-điền: Rộng cả ngàn dặm, núi liền lớp lớp. Sau Vu-điền có Nhung Lư,57 Hãn Nhĩ (?), Cừ Lặc,58 Bì Sơn59 (Bì Quỹ, Bồ Sơn) v.v…, bao gồm khu vực Vu-điền, Bì Sơn, Hoà-điền (Khotan) ngày nay v.v... Đô thành nước ấy vuông 8, 9 dặm. Bên trong có 5 đại thành và vài mươi thành nhỏ. Ba mươi dặm về phía Đông thành có sông Thủ Bạt (tức là sông Hoà-điền) sản xuất ngọc thạch. Đất thích hợp với ngũ cốc, cây dâu tằm, cây gai, nhiều ngọc đẹp, có ngựa tốt, lạc đà, lừa. Hình pháp nước ấy hễ giết người là xử tử, còn các tội khác tuỳ theo nặng nhẹ mà trừng phạt. Phong tục, vật sản đại lược giống Qui-tư. Truyền thống tôn trọng Tam bảo; chùa tháp, Tăng ni rất nhiều. Vua rất kính tín, ngày nào thiết lập trai đàn, nhà vua đích thân quét dọn, dâng cúng thực phẩm. Năm mươi dặm về phía Nam thành có chùa Tán-ma, tức là chỗ La-hán Tỳ-kheo Lô-chiên vì vua nước ấy tạo tháp hình bát úp. Trên đá có chỗ đi chân không của vị Bích-chi Phật mà hai dấu chân vẫn còn. Năm trăm dặm về phía Tây Vu-điền có chùa Tỷ-ma, là chỗ Lão Tử hoá Hồ thành Phật.60 Phong tục
 

57 Nhung Lư 戎盧: Trong sa mạc Gobi, phía Đông huyện Lạc Phố tỉnh Tân Cương ngày nay.
58 Cừ Lặc 渠勒: Vị trí hiện nay trong sa mạc, biên giới huyện Lạc Phố tỉnh Tân Cương.
59 Bì Sơn: Xem cht. 32, tr. 131.
60 Lão Tử hoá Hồ thành Phật: Truyền thuyết Lão Tử vào Ấn Độ giáo hoá Phật, hoặc Lão Tử chuyển sanh thành Phật, là do Phật giáo và Đạo giáo chống nhau nên phát sanh ra thuyết đặc dị này. Căn cứ Hậu Hán thư Liệt truyện quyển 20, hạ, Tương Giai truyện ghi: Lão Tử vào Di Địch làm Phù-đồ (Phật). Tam quốc chí Ngụy thư, Bùi Chú dẫn, truyện Tây Nhung trong Ngụy lược ghi: Lão Tử xuất Quan (Quan Trung) đi về Tây, qua Tây Vực vào Thiên Trúc giáo hoá người Hồ, Phù-đồ cũng là đệ tử ngài v.v… Sự phát sinh thuyết Lão Tử hoá Hồ làm Phật cũng có nguyên do: 1- Đồ chúng Đạo giáo muốn đề cao địa vị Đạo giáo trên Phật giáo; 2- Đồ chúng Phật giáo muốn tông giáo ngoại lai này là có nguồn gốc từ Trung Quốc nên dựng lên thuyết này.
 
không có lễ nghĩa, nhiều đạo tặc, dâm dục phóng túng. Người của các nước từ Cao Xương trở về phía Tây đều mắt sâu mũi cao, chỉ có người nước này là rất giống người Hoa Hạ.
Nước Đại Nguyệt Thị:61 Thủ đô là thành Thứng-giám-thị,62 đương thời Ký-đa-la63 hưng binh vượt qua phía Nam núi Đại Sơn (núi Hindu Kush),64 xâm lược Bắc Thiên Trúc, năm nước từ Kiền-đà-la trở ra phía Bắc đều thần phục Đại Nguyệt Thị. Bấy giờ Kế Tân, Đại Hạ, Cao-phụ, và cả Thiên trúc đều lệ thuộc Đại Nguyệt Thị.
Những nước nêu trên đều ở hướng Nam (Tây Vực).
Nước Yên Kỳ:65 Thủ đô là thành Viên Cừ, đô thành rộng hai dặm vuông, trong nước gồm có 9 thành. Không có kỷ cương pháp lệnh, binh lính trang bị đao, cung, giáp, giáo dài. Về hôn nhân đại lược giống với Hoa Hạ. Người tử vong đều thiêu đốt rồi mới chôn. Chế phục (để tang) của nước ấy đủ
 

61 Nước Đại Nguyệt Thị: Vị trí hiện nay là một dải Đông tỉnh Thanh Hải và Tây Trung bộ tỉnh Cam Túc.
62 Theo Phật quang đại từ điển: Đại Nguyệt Thị sau khi chủ định, thủ đô là thành Lam Tử (nay phía Bắc Afghanistan), Bắc (sông) Qui Thủy. Từ Hải (từ điển) v.v…: Thủ đô là thành Bạc La.
63 Ký-đa-la, tức là Wema Kudphises (Diêm-cao-trân) vào thời Tấn Mẫn đế, đã từ Bộc Đạt vượt qua Đại Tuyết Sơn, vượt qua sông Ấn Độ chinh phục vương quốc Ô-đức-cổ-phổ-bồi, chiếm hai vùng Bắc và Trung Ấn Độ. Lúc đó biên giới quốc gia Đông, Tây, Nam, Bắc đều ba, bốn ngàn dặm, đổi hiệu là Áp-đạt, kiến lập đô thành ở sông Oxus, phía Nam gọi là Bạt-đình-diên tức là thành Ba-nhĩ-khắc ở biên giới phía Bắc Afghanistan, tục gọi là Tiểu Thành Vương-xá. Nhưng vua ấy có thành quách mà chẳng ở, thường tuần qua vùng núi Thổ-hỏa-la (xem rõ ở truyện Áp-đạt của Ngụy thư và Lạc Dương già-lam ký). (cht. Tg)
64 Hindu Kush (Hưng-đô-khố-thập 興都庫什), dải núi lớn ở Trung Á.
65 Nước Yên Kỳ 焉耆國: Hiện nay huyện Yên Kỳ tỉnh Tân Cương.
 
bảy ngày mới trừ phục. Người lớn đều cắt tóc để làm đẹp đầu. Văn tự giống với văn tự Bà-la-môn. Tục thờ Thiên Thần (tức là Yêu giáo) và tôn sùng Phật pháp. Rất trọng ngày mùng 8 tháng 2, mùng 8 tháng 4, vào những ngày đó người nước ấy đều y theo Thích giáo (đạo Phật) mà trai giới hành đạo. Khí hậu lạnh, ruộng đất màu mỡ. Ngũ cốc có lúa nước, lúa tẻ, đậu, lúa mì; súc vật có lạc đà, ngựa, nuôi tằm chẳng để lấy tơ mà chỉ bổ sung cho sợi bông. Thường chuộng rượu nho, thích âm nhạc. Mười dặm về phía Nam có biển (tức là hồ Bosten), cá, muối, rau ráng dồi dào. Các vùng thuộc nước ấy có Úy Lê, Nguy Tu, Sơn Quốc (Sơn Vương) v.v…, bao gồm hai huyện Yên Kỳ và Uý Lê ngày nay.
Nước Qui-tư:66 Thủ đô là thành Diên, nước cũ đời Hán. Thành vuông năm, sáu dặm, có ba lớp. Ở giữa có hàng ngàn tháp miếu Phật. Nhân dân lấy việc ruộng nương, chăn nuôi làm nghề nghiệp. Trai gái đều cắt tóc trên đỉnh đầu. Vua nước ấy đầu buộc dải lụa ngũ sắc, ngồi giường sư tử vàng. Hình pháp nước ấy là “giết người đền mạng”, trộm cướp thì xử chặt một cánh tay và một chân. Thuế má lấy đất làm tiêu chuẩn; về thuế ruộng, người không ruộng thì đóng thuế bằng bạc. Phong tục, hôn nhân, ma chay, sản vật đại lược giống Yên Kỳ. Khí hậu có phần ôn hoà. Lại sản xuất các thứ dạ mịn, nhiều thép, sắt, chì, da hươu, thảm đệm dệt bằng lông, muối hạt, phẩm xanh, thư hoàng,67 hồ phấn,68 hương An
 

66 Nước Qui Tư 龜玆國: Hiện nay nằm giữa hai huyện Sa Nhã và Khố Xa tỉnh Tân Cương.
67 Thư hoàng 雌黃: E. orpiment, tên khoáng vật, thành phần hoá học là AS2S3, dùng chế thuốc nhuộm màu vàng.
68 Hồ phấn 胡粉: Thời xưa người ta dùng “diên phấn” (phấn nấu từ chì) và “yên chi” (son, phấn sáp) hoà lại, tạo thành một loại phấn trang sức bôi mặt.
 
Tức,69 và có nhiều ngựa, trâu rừng, công. Chư hầu nước ấy có Cô Mặc, Ôn Túc, Uý Đầu và các vùng phía Đông đến Luân Đài, phía Tây đến Bắc Ô Thập (thuộc tỉnh Tân Cương ngày nay).
Nước Sơ-lặc:70 Ở phía tây Cô Mặc, hơn trăm dặm phía Nam núi Bạch Sơn, nước cũ thời Hán. Đô thành nước ấy vuông năm dặm, trong nước có 12 ngôi thành lớn, vài mươi ngôi thành nhỏ, chân tay đều sáu ngón, người sinh con không có sáu ngón thì không nuôi, binh lực hùnh mạnh hai ngàn người. Thổ sản: nhiều lúa nước, lúa tẻ, đay (gai), đồng, sắt, thiếc, thư hoàng. Chư hầu nước Sơ-lặc có Trinh Trung (truyện Ban Siêu trong Hậu Hán thư gọi là thành Tổn Trung, chú thích là Đốn Trung), Sa-xa, Kiệt Thạch (nay là Kāshgar), Cừ Sa (Bắc sử gọi là Cừ Sa, ở thành Sa-xa cũ, phía Tây bắc Tử Hợp), Tây Dạ (nước Tất-cư-bán, một tên là Tử Hợp), Y Nại,71 Mãn Lê (Bồ Lê),72 Ức Nhược (Hậu Hán thư gọi là Đức Nhược),73 Du Linh (Tiền, Hậu Hán thư đều không có tên nước này), Quyên Độc,74 Hưu Tu (Hưu Tuần),75 Cầm Quốc (Tiền, Hậu Hán thư đều không có nước này), bao gồm vùng rộng lớn từ phía Đông đến Ba Sở,76 phía
 

69 Hương An Tức 安息香: Cây hương An Tức, Skt. guggula, dịch âm Quật-cụ-la. Cây này sinh trưởng ở Ấn Độ, Ba-tư v.v… Từ cây này người ta có thể chế ra một loại hương liệu. Hương liệu này do thương nhân nước An Tức đem vào Trung Quốc đầu tiên nên gọi hương An Tức.
70 Nước Sơ-lặc: Xem cht. 9, tr. 19.
71 Y Nại: Xem cht. 28, tr. 130. 
72 Bồ Lê: Xem cht. 27, tr. 130.
73 Đức Nhược 德若: Nay vùng huyện Diệp Thành tỉnh Tân Cương.
74 Quyên Độc 捐毒: Phía Tây bắc huyện Ô Kháp, tỉnh Tân Cương ngày nay.
75 Hưu Tuần 休循: Nay thuộc vùng đất A Lại Cốc phía Bắc cao nguyên Pamir, cũng là phía Tây Thông Lĩnh ngày nay.
76 Ba Sở 巴楚: Phía Đông huyện Già Sư tỉnh Tân Cương ngày nay.
 
Tây đến Thông Lĩnh, phía Nam đến Bồ Lê, phía Đông đến Diệp Thành.77 Về phía Tây là nước Đại Uyển,78 An Tức,79 Điều Chi,80 Ô Dặc Sơn Li81 v.v… những nước đó không thêm bớt.
Những nước nêu trên ở Trung đạo (Tây Vực).
Xa Sư Hậu Bộ:82 Thời Hậu Ngụy thuộc về Nha Nhiên Bộ. Chư hầu nước ấy có Đông, Tây Thả Di,83 Đan Hoàn,84 Tất Lục (Ty Lục),85 Bồ Lục (Bồ Loại),86 Ô Tham (Ô Tham Tí Li).87 Phía Tây bắc là Ô Tôn,88 Khương Cư,89 những nước đó không thêm bớt.
 

77 Diệp Thành: Xem cht. 25, tr. 129.
78 Đại Uyển 大宛: Nay thuộc một phần nước Cộng hòa Uzbekskaja, Trung Á. 
79 An Tức 安息: Tên nước Ba-tư thời xưa, gọi là Parthia, vị trí ở cao nguyên Iran.
80 Điều Chi 條支: Vương quốc cổ đại ở Tây Vực thời Hán, phía Tây nước An Tức, bị La-mã tiêu diệt vào năm 65 trước Tl.. 
81 Ô Dặc Sơn Li 烏弋山離: Hoặc gọi Ô Dặc, một dải Nam bộ Iran và Baluchistan ngày nay.
82 Xa Sư Hậu Bộ: Xem Xa Sư Tiền Bộ, cht. 77, tr. 74.
83 Thả Di 且彌: Thời Hán, Thả Di phân làm hai nước Đông, Tây, sau hợp lại thành một. Nay thuộc vùng đất hai huyện Tuy Lai và Xương Cát tỉnh Tân Cương.
84 Đan Hoàn 單桓: Nay thuộc vùng Ô Lỗ Mộc Tề tỉnh Tân Cương.
85 Ty Lục 卑陸: Nay là vùng đất của hai huyện Phu Viễn và Phụ Khang tỉnh Tân Cương.
86 Bồ Loại 蒲類: Nay là huyện Trấn Tây tỉnh Tân Cương.
87 Ô Tham Tí Li 烏貪訾離: Nay là huyện Tuy Lai tỉnh Tân Cương.
88 Ô Tôn: Tên quốc gia cũng là tên một bộ tộc (xem cht. 12 trước). Vị trí hiện nay từ huyện Ôn Túc về phía Bắc, huyện Y Ninh về hướng Nam tỉnh Tân Cương đều thuộc đất của Ô Tôn.
89 Khương Cư: Xem cht. 31, tr. 56.
 
Những nước nêu trên là các nước ở Bắc tân đạo.Trong truyện Tây Nhung sách “Ngụy lược” gọi là: “Các nước Tây Vực, đầu thời Hán lập ra 36 đạo90, sau phân hơn 50. Từ niên hiệu Kiến Võ trở lại, họ thôn tính tiêu diệt lẫn nhau, tới nay còn có 20. Về vị trí trước có hai đạo, nay có ba đạo”. Đó là Nam, Trung, Bắc tân đạo. Nói 20 nước là những nước theo sau nước lớn hùng mạnh. Tại “Thiên sơn nam lộ” còn có nước Cao Xương mới thành lập (xem bài sau sẽ rõ). Trừ các nước nói trên, còn có các nước trong vùng Thông Lĩnh và bên ngoài Thông Lĩnh, tóm lược những nước ấy trong biểu đồ sau:
 
Tên nước
Đô thành
Đặc sản
Tên đất
ngày nay
Bị chú
 
Quyền-ư-ma
 
 
 
Ô-tạp-đề của vùng Khảm-cự-đề91
 
Tức nước
Ô Trạ92 thời xưa
 
Duyệt Bát
 
 
Thạch lưu hoàng
 
Đông bắc hồ
Balkhash, Tây bắc
Ô Tôn
 
 
Giả-chí-bạt
 
Giả-chí-bạt
 
Sắt tốt
và sư tử
 
Phía Tây Sơ-lặc
 
 
Mê Mật
 
Mê Mật
Vàng, ngọc, nhiều sắt
Phía Tây
Giả-chí-bạt
 
 
Tất-vạn-cân
 
Tất-vạn-cân
 
Sư tử
 
Vùng Samarkand
 
 

90 Đạo 道: Xem cht. 3, tr 172.
91 Khảm-cự-đề 坎巨提: Ở phía Bắc Kashmir, Tây nam huyện Bồ Lê tỉnh Tân Cương.
92 Ô Trạ: Xem cht. 33, tr. 134.
 
 
Nữu Mật
 
Nữu Mật
 
 
Bukhara (Bokhara)
 
 
 
Lạc Na
 
 
Quí Sơn
 
Ngựa
Hãn huyết93
 
 
 
Fergana
Nước Đại Uyển tức nước
Phá-lạc-na trong Đổng Uyển thông bắc sử
Tây Vực truyện
 
Túc-đặc
 
 
Ngựa, nho, rượu
Túc-đặc trong Hậu Hán thư, nay là
núi Caucasus,
phía Bắc Lý Hải
Còn gọi là
Yêm-sái, tên khác Ôn-na-sa
 
 
Ba-tư
 
 
Túc Lợi
 
Vàng, san hô, đồng, sắt, hổ phách, mã não, chân châu, lưu ly, ngựa, lừa, voi trắng, sư tử
 
 
Một dải
Syrian
 
 
Xưa là nước
Điều Chi
 
 
Phục-lô-ni
 
 
Phục-lô-ni
 
Đà điểu, bạc, san hô, hổ phách, sư tử, ngũ quả
 
 
Bắc Ba-tư
 
 
Già-sắc-ni
 
Già-sắc-ni
Muối đen, nhiều
ngũ quả
Nam Tất-vạn-cân tức Nam Samarkand
 
 
Bạc Tri
 
Bạc Lý
 
Ngũ quả
Phía Nam nước
Già-sắc-ni, tức
Nam Samarkand
 
 

93 Hán: Hãn huyết mã 汗血馬: Tên một loại tuấn mã ở Đại Uyển. Loại ngựa này sau khi phi nước đại, mồ hôi thấm trên lông, đỏ giống như chảy máu.
 
 
 
Mâu Tri
 
 
Mâu Tri
Cầm thú,
thảo mộc
cùng loại với
Trung Quốc
 
Phía Tây Nữu Mật, tức Tây Bukhara
 
A-phất-thái- hãn
A-phất-thái-hãn
Đất bằng, nhiều
ngũ quả
Phía Tây Nữu Mật, tức Tây Bukhara
 
 
Hô-tư-mật
 
Hô-tư-mật
Bạc, sư tử, hổ phách, nhiều ngũ quả
Phía Tây A-phất-thái-hãn,
Bắc sông Amu Darya
 
 
Nặc-sắc-ba-la
 
Ba-la
Lúa nước, lúa mạch, nhiều ngũ quả
Phía Nam Nữu Mật, tức
Nam Bukhara
 
 
Tảo-già-chí
 
Tảo-già-chí
Ít ruộng,
lấy lúa và
lúa mạch
ở lân quốc,
có ngũ quả
Phía Tây Nữu Mật,
Bắc sông Amu Darya
 
 
Già-bất-đan
 
Già-bất-đan
Lúa nước,
lúa mạch,
ngũ quả
Phía Tây bắc
Tất-vạn-cân,
tức Tây bắc
Samarkand
 
 
Giả Thiệt
 
 
 
Phía Tây bắc
Phá Lạc,
nay là Tashkent
 
Nước
Khương Cư xưa
 
Già Bội
 
Hòa Mặc
 
Cư trú hang núi
Wakhan  
núi Badakh
Xưa là Hấp hầu94 Hưu Mật, cũng là Hộ Mật
 
Thành Chiết- bệ-mạc-tôn
 
 
Song Mĩ
 
Cư trú hang núi
 
Đất La-lỗ-thiện bộ
 
Xưa là Hấp hầu Song Mĩ
 

94 Hấp hầu: Xem cht. 26, tr. 23.
 
 
Kiềm Đôn
 
Hộ Tháo
 
Cư trú hang núi
Đất Nhã-khắc-ba trong núi Tạp-thập-đông (một thuyết nói là ở Tây Sa-xa)
 
Xưa là Hấp hầu Quí Sương
Phất-địch-sa
Bạt-mao
Cư trú hang núi
Núi Badakh
Xưa là Hấp hầu Hật Đốn
 
Diêm-phù-yết
 
Cao-phụ
 
Cư trú
hang núi
 
Một dải Bukhara
 
Xưa là Hấp hầu Cao-phụ
 
 
An Tức
 
 
Uý Sưu
 
 
Cư trú hang núi
 
 
Một dải
Đông nam Iran
 
 
Có thuyết nói là An Quốc,
tức Bokhara
 
Đại Nguyệt Thị
 
Thứng-giám- thị
 
Đất đai nóng ẩm, sư tử, tê giác, Trâu lớn, Khổng tước (công),
Đại tước
(đà điểu)
 
Một dải Bắc Ấn
Pakistan đến Kashmir
 
Điều Chi
 
 
Một dải Syrian
 
 
Đại Tần
 
An Đô
Ngũ cốc, dâu tằm, đay (gai), minh châu, ngọc bích dạ quang
 
La-mã
 
 
A-câu-khương
 
Ngũ cốc, các thứ trái cây, tiền tệ,
binh khí, vàng, ngọc
Ở Đông nam
Kỷ-nhĩ-kỷ-đặc
 
 
 
Ba Lộ
 
Có thục mã (?), sản vật và phong tục quốc gia giống A-câu-khương
 
Kỷ-nhĩ-kỷ-đặc
 
 
Tiểu
Nguyệt Thị
 
Phú-lâu-sa
Tiền, vàng, bạc là hàng hoá trao đổi, theo súc vật đến vùng có nước, cỏ, có tháp Phật
Ở Tây nam
Kỷ-nhĩ-kỷ-đặc,
tức một dải
Bắc Ấn
 
 
Kế Tân
 
Thiện Kiến
Ngũ cốc, văn khắc, dệt len, vàng, bạc, đồng, thiết
 
Kashmir
 
Thổ-hô-la
Bạt-đề
Ngũ cốc, ngựa hay,
lạc đà, lừa
Phía Nam sông
Amu Darya
Đất Đại Hạ xưa
 
Phó Hoá
 
Phó Hoá
Ngũ cốc, nho, ngựa, lạc đà, lừa
 
 
 
Nam
Thiên Trúc
 
Phục-xú
Ngọc Ma-ni, san hô,
hoàng kim,
bạch ngân
Nam bộ Ấn Độ
 
 
Điệp-phục-la
 
 
Ngũ cốc, vải, muối
 
 
 
 
Bạt-đậu
 
 
Vàng, bạc, nhiều loại báu vật, voi trắng, trâu nước, ngũ cốc v.v…
 
 
 
 
Áp-đạt
 
Bạt-để-diên
 
Từ sông Amu Darya trở về Nam
đến Ấn Độ
Theo Bắc sử thuộc tộc Đại Nguyệt Thị
 
Châu Cư
 
Lúa mạch, trái cây, thờ Phật, ngôn ngữ giống Vu-điền
 
Tây Vu-trí
 
Khát-bàn-đà
 
 
Một dải Bồ Lê
 
Bát Hoà
 
Lúa mạch, rượu, gia súc
Wakhan
Pamir
Tức Hộ Mật
Ba Tri
 
 
Tây nam Wakhan
Pamir
 
Xa Di
 
 
Nam Ba Tri,
Bắc Ô-trường
 
Càn Đà
 
 
Bắc Ấn hoặc một dải Afghanistan
 
 
Khương quốc
 
Gia súc, vàng, lỗ sa,95
da hươu,
rượu nho
 
Samarkand
 
An Quốc
 
Muối ngũ sắc
Một dải
Bukhara
 
 
Thạch Quốc
 
Dược Sát Thuỷ
Lúa, lúa mạch,
ngựa giỏi
Một dải sông
Tích-nhĩ (Sir-Daria),
Tashkent
 
 
 
Nữ quốc
 
 
Chu sa,
xạ hương,
bò rừng
(Tây Tạng),
ngựa, muối
 
Tại Nam Thông Lĩnh, một thuyết nói là sau Tây Tạng
 
 

95 Lỗ sa 磠砂: Khoáng vật Sal amoniac (NH4Cl), một chất đá như vỏ cây sinh ở bên núi lửa, dùng làm thuốc đánh màng mắt và rất cần dùng về điện.
 
Phạt Hãn
 
 
Fergana
Xưa là nước
Cừ Sưu
Mê Quốc
 
 
Đông nam
Samarkand
 
 
 
Ô-trường
 
 
Măng-yết-lợi
 
Nhiều trái cây rừng, dẫn nước tưới ruộng, nhiều lúa, lúa mì
 
 
Phía Tây
Kỷ-nhĩ-kỷ-đặc
 
 
Sử Quốc
 
 
 
Thành Kiệt Thạch
 
 
Tào Quốc
 
 
Ở khoảng giữa
Fergana và
Samarkand
 
Hà Quốc
 
 
Tây bắc
Samarkand
 
Ô-na-át
 
 
Ban Hắc
 
 
Mục Quốc
 
 
 
Thành Mộc Lộc
 
 
 
 
Tào Quốc
 
 
Lúa mì, trâu lớn, voi, ngựa, vàng, bạc, thảm lông, hương An Tức,96 muối đen v.v…
 
 
 
Kashmir
 
 
Chú: Việc ghi chép trong Bắc sử và Tùy thư về các nước Tây Vực có tăng giảm, lược bớt có sai khác, biểu đồ này theo sự liệt kê của Bắc sử. Tuỳ thư ghi nước Khương ở phía Tây Thông Lĩnh rất mạnh, gồm các nước: Mễ, Sử, Tào, Hà, An, Tiểu An, Na-sắc-ba, Ô-na-át, Mục, Ấp-đát v.v…
 

96 Hương An Tức: Xem cht. 69 trước.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »