vật có tính xấu” (Ancient Khotan, I. Trang 49), nhưng danh xưng này e rằng là sau khi văn hóa Ấn Độ truyền vào nước này mà gượng ép để gọi bản tính của dân tộc ấy, chẳng phải là danh xưng cố hữu của nước đó. Căn cứ theo khảo chứng của ông Bạch Điểu, người dân bản địa nước này là dân tộc hỗn hợp của ba dân tộc: Aryan, Thổ-nhĩ-kỳ, Tây Tạng, tuyệt đối không phải là bộ tộc chính thống.
Trong lời luận đầu, chúng tôi đã trình bày Sơ-lặc là điểm quan trọng xưa nay của con đường phía Bắc, là một cửa ải giao thông giữa Đông và Tây vùng Thông Lĩnh, và văn hóa Ấn Độ, Iran cũng truyền vào rất sớm. Các nước từ Thông Lĩnh về phía Đông tiếp xúc với Phật giáo cũng rất sớm, tiếc là tư liệu còn thiếu, chưa định được Phật giáo truyền vào là bắt đầu thời kỳ nào. Nhưng, thời kỳ đầu thế kỷ thứ II Tây lịch, cậu của An Quốc, vua nước Sơ-lặc là Thần Bàn, bị đưa đến nước Đại Nguyệt Thị làm con tin cho vua Kaniṣka đời thứ hai (xem phần Phật giáo nước Đại Nguyệt Thị). Ngài Huyền Trang có ghi chép về ngôi Già-lam và di tích tu thiền định của ông ấy, vẫn còn ở Ca-tất-thí. Vậy rõ ràng Thần Bàn là một tín đồ Phật giáo. Sau khi An Quốc chết, ông mới trở lại Sơ-lặc, được lập lên làm vua; chắc chắn ông từng dốc lòng khôi phục hoằng dương Phật giáo. Do đó, nước Sơ-lặc thấm nhuần dần tư tưởng Phật giáo chậm lắm là thời kỳ đầu thế kỷ thứ II Tây lịch.
Đến nơi ngôi Già-lam chỗ Thần Bàn ở, ngài Huyền Trang cho là đương thời còn có Tăng học Tiểu thừa giáo đến 300 người cư trú trong ngôi chùa đó. Lại nữa, về mùa Đông ông ấy thường cư trú ở nước Chí-na-bộc-để (Cīnabhukti) ở Bắc Ấn Độ, mà thời ngài Huyền Trang cũng thịnh hành tông phái Hữu bộ thuộc Phật giáo Tiểu thừa. Phật giáo mà Thần Bàn tu tập cũng có thể là Tiểu thừa giáo, nên sau khi về nước, chắc
ngài đều nghiên cứu hết. Ngài có thể tiên đoán việc cát hung (Lương cao tăng truyện, quyển 2, La-thập truyện). Sau khi ngài La-thập ở nước này tuần du lễ bái bát Phật, vào đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, ngài Trí Mãnh cũng đến nước Kỳ-sa — tức là nước Sơ-lặc, chiêm bái Phật tích. Ngài cũng ghi chép cái bát Phật rằng:
“Màu sáng xanh tía, bốn phía đều vậy hết. Ngài Trí Mãnh dâng hoa hương cúng dường, rồi đội lên đầu mà phát nguyện: Nếu bát linh ứng, có thể nặng có thể nhẹ, bát liền chuyển thành nặng, sức chẳng kham nổi, và khi để xuống bàn, lại bất giác nhẹ tênh. Việc ứng theo đạo tâm của bát ấy là như vậy.” (Xuất tam tạng ký tập, quyển 15).4
Việc hai ngài thấy bát Phật đều giống nhau. Đương thời, ngài Trí Mãnh ở nước này lễ bái cái ống nhổ của đức Phật bằng đá; trước vài năm, lúc ngài Trí Mãnh trở về trước, ngài Pháp Hiển đi qua nước này cũng thấy cái đó. Ngài Pháp Hiển còn thấy một ngôi tháp thờ răng Phật. Như trên đã thuật, nước Sơ-lặc từ lâu đã có đủ thứ di vật của đức Phật truyền vào, và được người trong nước bảo hộ rất nghiêm mật.
và nghi thức cúng tế của Ấn Độ đời xưa có sự quan hệ mật thiết không thể tách rời. Do nhiệm vụ khác nhau nên Phệ-đà chia làm 4 loại: Lê-câu phệ-đà (Skt. Ṛg-veda, gồm những bài tán ca của dân tộc Aryan tán tụng thần thánh…), Sa-ma phệ-đà (Skt. Sām-veda, tức thu tập các bài tán ca do những Ca vịnh tăng [udgātṛ] xướng đọc khi tế lễ Soma), Dạ-nhu phệ-đà (Skt. Yajur-veda, là những bài chú được đọc tụng trong cúng tế…), A-thát-bà phệ-đà (Skt. Atharva-veda, gồm 731 bài ca tán, chủ yếu là chú thuật cầu phúc, trừ tai và bao hàm một ít tư tưởng triết học, khoa học…)...
3 Ngũ minh 五明: Năm môn học thời xưa ở Ấn Độ. 1- Thanh minh, môn học về ngôn ngữ, văn tự. 2- Công xảo minh, môn học về toán pháp, công nghệ… 3- Y phương minh, môn học về y dược. 4- Nhân minh, môn học về luận lý. 5- Nội minh, môn học về tôn chỉ của học phái mình.
4 Xuất tam tạng ký tập 15, T55n2145_p113b25.