Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 37: Phật Giáo Nước Sơ -Lặc Và Nước Cao Xương - I. Phật Giáo Nước Sơ -Lặc (Trang 373 - 382)

PHẬT GIÁO NƯỚC SƠ-LẶC
VÀ NƯỚC CAO XƯƠNG
                                                                                                                          Vũ Khê Liễu Đế
I. PHẬT GIÁO NƯỚC SƠ-LẶC
 Vị trí Kāshgar ở Tân Cương hiện nay, trong Chính sử từ đời Hán cho đến đời Tùy đều gọi là Sơ-lặc, trong Phật đồ du ký viết là Sa-lặc. Đến thời Đường, dịch âm tên nước ấy lại là Ca-sư-cát-lê (theo Nhất thiết kinh âm nghĩa, của Tuệ Lâm), hoặc là Ca-sư-kỳ-li (theo Ngũ Thiên Trúc quốc ký của Tuệ Siêu), sử nhà Nguyên gọi là Khả-thất-cáp-nhĩ, hoặc Khả-thất-cáp-lí. Cho nên Kāshgar ngày nay, từ đời Đường trở về sau đều theo đó mà gọi. Pháp Hiển truyện viết là Kiệt-xoa, truyện ngài Trí Mãnh chép trong Xuất tam tạng ký tập viết là Kỳ-sa, Tây Vực ký của ngài Huyền Trang viết là Khư-sa, Đường thư viết là Ca-sư (tên ngôi thành của Sơ-lặc). Đại khái tên gọi Sơ-lặc đã thành định thuyết của giới học giả, song, xưa đến nay gọi tên Kāshgar có ý nghĩa ra sao?
Theo thuyết của ông Grenard cho rằng, từ “Kāsh” của ngôn ngữ Iran là ngọc, nghĩa của từ “Ghar” thuộc ngôn ngữ Baluo (?). Nhưng ông Bạch Điểu Khố Cát lại cho rằng, từ Ghar của ngôn ngữ Afghanistan nghĩa là núi, từ Kāshgar hình như là Ngọc Thị (phố ngọc) hay Ngọc Sơn (núi ngọc).
Ngài Huyền Trang viết tên nước ấy là “Thất-lợi-cật-lật-đa-để”,1 dịch âm từ chữ Phạn Kaluṣāntara, Kalusadhara, Kaluṣottara, ông Stein cho rằng tên đó có nghĩa là “bao hàm
 

1 Tây Vực ký 12, T51n2087_p942c12.
 
vật có tính xấu” (Ancient Khotan, I. Trang 49), nhưng danh xưng này e rằng là sau khi văn hóa Ấn Độ truyền vào nước này mà gượng ép để gọi bản tính của dân tộc ấy, chẳng phải là danh xưng cố hữu của nước đó. Căn cứ theo khảo chứng của ông Bạch Điểu, người dân bản địa nước này là dân tộc hỗn hợp của ba dân tộc: Aryan, Thổ-nhĩ-kỳ, Tây Tạng, tuyệt đối không phải là bộ tộc chính thống.
Trong lời luận đầu, chúng tôi đã trình bày Sơ-lặc là điểm quan trọng xưa nay của con đường phía Bắc, là một cửa ải giao thông giữa Đông và Tây vùng Thông Lĩnh, và văn hóa Ấn Độ, Iran cũng truyền vào rất sớm. Các nước từ Thông Lĩnh về phía Đông tiếp xúc với Phật giáo cũng rất sớm, tiếc là tư liệu còn thiếu, chưa định được Phật giáo truyền vào là bắt đầu thời kỳ nào. Nhưng, thời kỳ đầu thế kỷ thứ II Tây lịch, cậu của An Quốc, vua nước Sơ-lặc là Thần Bàn, bị đưa đến nước Đại Nguyệt Thị làm con tin cho vua Kaniṣka đời thứ hai (xem phần Phật giáo nước Đại Nguyệt Thị). Ngài Huyền Trang có ghi chép về ngôi Già-lam và di tích tu thiền định của ông ấy, vẫn còn ở Ca-tất-thí. Vậy rõ ràng Thần Bàn là một tín đồ Phật giáo. Sau khi An Quốc chết, ông mới trở lại Sơ-lặc, được lập lên làm vua; chắc chắn ông từng dốc lòng khôi phục hoằng dương Phật giáo. Do đó, nước Sơ-lặc thấm nhuần dần tư tưởng Phật giáo chậm lắm là thời kỳ đầu thế kỷ thứ II Tây lịch.
Đến nơi ngôi Già-lam chỗ Thần Bàn ở, ngài Huyền Trang cho là đương thời còn có Tăng học Tiểu thừa giáo đến 300 người cư trú trong ngôi chùa đó. Lại nữa, về mùa Đông ông ấy thường cư trú ở nước Chí-na-bộc-để (Cīnabhukti) ở Bắc Ấn Độ, mà thời ngài Huyền Trang cũng thịnh hành tông phái Hữu bộ thuộc Phật giáo Tiểu thừa. Phật giáo mà Thần Bàn tu tập cũng có thể là Tiểu thừa giáo, nên sau khi về nước, chắc
ông cũng đề xướng Tiểu thừa giáo (xem thêm Giải thuyết Tây Vực ký, trang 984-985). 
Đạo An Tây Vực ký nói rằng: “Nước Sơ-lặc có cái giường (ghế) tắm của Phật làm bằng gỗ Chiên-đàn đỏ, vuông bốn thước, vua để ở trong cung để cúng dường” (dẫn ở Thủy kinh chú, quyển 2). Cái giường (ghế) tắm của Phật này có lẽ là vật do Thần Bàn mang từ Ấn Độ về, sau đó để ở vương cung cúng dường. Giả sử cái giường này không phải là vật do Thần Bàn mang theo về thì giữa thế kỷ thứ IV Tây lịch, trong cung vua nước Sơ-lặc đã có thiết bày di vật của đức Phật để cúng dường. Vậy có thể thấy được sự sùng tín Tam bảo ở đó.
Lại nữa, đương thời Cưu-ma-la-thập lưu học ở Kế Tân, tức là lúc tu phạm hạnh ở Ca-thấp-di-la, khi theo mẹ là Kỳ-bà (Jīva) trở về bổn quốc — giữa đường Quy Tư — ngài đã tới nước này đảnh lễ bát của đức Phật. Lúc ấy, ngài tự nghĩ: “Hình thể cái bát rất lớn mà sao lại nhẹ?” Nghĩ chưa xong, trọng lượng của bát bỗng nặng thêm, không thể bưng được. Ngài bất giác la lên, đặt xuống. Lúc ấy, mẹ ngài nói rằng: “Tâm con có phân biệt nên bát có nặng nhẹ”. Ngài La-thập mới trụ lại nước này một năm. Mùa Đông năm ấy hết lòng tu tập, phúng tụng A-tỳ-đàm lục túc chư luận, Tăng nhất A-hàm thấu đáo, thông hiểu đầy đủ nghĩa uyên áo của các kinh, không nghi trệ. Ngài lại được sự tiến cử của Sa-môn Hỷ Kiến, vua nước ấy quý trọng, đáp lại lời thỉnh của vua, ngài giảng nói kinh Chuyển pháp luân. Nhân thời gian rảnh rỗi còn lại, ngài học tập thêm kinh sách ngoại đạo, như Tứ Phệ-đà,2 Ngũ minh3 và những việc âm dương, tinh tú, tính toán…
 

2 Tứ Phệ-đà 四吠陀: Hoặc gọi Tứ Vi-đà (Skt. catur-veda), Hán dịch là Minh luận, Trí luận… Đây là Thánh điển căn bản của Bà-la-môn giáo, cũng là tư tưởng chánh thống theo truyền thống cổ Ấn Độ. Giữa Phệ-đà
 
ngài đều nghiên cứu hết. Ngài có thể tiên đoán việc cát hung (Lương cao tăng truyện, quyển 2, La-thập truyện). Sau khi ngài La-thập ở nước này tuần du lễ bái bát Phật, vào đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, ngài Trí Mãnh cũng đến nước Kỳ-sa — tức là nước Sơ-lặc, chiêm bái Phật tích. Ngài cũng ghi chép cái bát Phật rằng:
“Màu sáng xanh tía, bốn phía đều vậy hết. Ngài Trí Mãnh dâng hoa hương cúng dường, rồi đội lên đầu mà phát nguyện: Nếu bát linh ứng, có thể nặng có thể nhẹ, bát liền chuyển thành nặng, sức chẳng kham nổi, và khi để xuống bàn, lại bất giác nhẹ tênh. Việc ứng theo đạo tâm của bát ấy là như vậy.” (Xuất tam tạng ký tập, quyển 15).4
Việc hai ngài thấy bát Phật đều giống nhau. Đương thời, ngài Trí Mãnh ở nước này lễ bái cái ống nhổ của đức Phật bằng đá; trước vài năm, lúc ngài Trí Mãnh trở về trước, ngài Pháp Hiển đi qua nước này cũng thấy cái đó. Ngài Pháp Hiển còn thấy một ngôi tháp thờ răng Phật. Như trên đã thuật, nước Sơ-lặc từ lâu đã có đủ thứ di vật của đức Phật truyền vào, và được người trong nước bảo hộ rất nghiêm mật.
 

và nghi thức cúng tế của Ấn Độ đời xưa có sự quan hệ mật thiết không thể tách rời. Do nhiệm vụ khác nhau nên Phệ-đà chia làm 4 loại: Lê-câu phệ-đà (Skt. Ṛg-veda, gồm những bài tán ca của dân tộc Aryan tán tụng thần thánh…), Sa-ma phệ-đà (Skt. Sām-veda, tức thu tập các bài tán ca do những Ca vịnh tăng [udgātṛ] xướng đọc khi tế lễ Soma), Dạ-nhu phệ-đà (Skt. Yajur-veda, là những bài chú được đọc tụng trong cúng tế…), A-thát-bà phệ-đà (Skt. Atharva-veda, gồm 731 bài ca tán, chủ yếu là chú thuật cầu phúc, trừ tai và bao hàm một ít tư tưởng triết học, khoa học…)...
3 Ngũ minh 五明: Năm môn học thời xưa ở Ấn Độ. 1- Thanh minh, môn học về ngôn ngữ, văn tự. 2- Công xảo minh, môn học về toán pháp, công nghệ… 3- Y phương minh, môn học về y dược. 4- Nhân minh, môn học về luận lý. 5- Nội minh, môn học về tôn chỉ của học phái mình.
4 Xuất tam tạng ký tập 15, T55n2145_p113b25.
 
Căn cứ vào đó để tìm hiểu suy luận thì biết giữa thế kỷ thứ III Tây lịch trở về trước, Phật giáo Sơ-lặc đã cắm gốc rễ lâu lắm rồi. Vả lại, thời ngài La-thập, vua Sơ-lặc từng thỉnh ngài giảng kinh nói pháp. Ngài La-thập còn được sùng kính lạ thường. Vua nước ấy cũng là một tín đồ Phật giáo nhiệt tâm. Duy chỉ những kinh điển mà ngài La-thập học ở nước này và giảng cho vua nghe, nếu xét tính chất kinh ấy hình như đều là học phái Tiểu thừa. Khi ngài La-thập lưu lại ở nước này, con của Tham quân vương, vương tử nước Sa-xa (Yarkand) là Tu-lợi-da-tô-ma (Suryāsoma) tôn ngài làm thầy, học giáo lý Đại thừa, ngộ được lý “Chân không vô tướng”, nhân đó mà than rằng: “Ta xưa học Tiểu thừa, như người chẳng biết vàng mà lấy du thạch5 làm đẹp”. Từ đó, vương tử nhiệt tâm tìm yếu nghĩa của Đại thừa, tụng đọc Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận v.v… Như vậy khi ấy đã có Tăng học Đại thừa đến nước này, và sau đó, Tu-lợi-da-tô-ma quay trở lại nước Quy Tư tuyên dương Đại thừa giáo. Hình như nước này không hoan nghênh Đại thừa giáo lắm, bởi vì xưa nay Phật giáo Sơ-lặc rất thịnh hành Tiểu thừa giáo.
Năm 400 Tây lịch, lúc ngài Pháp Hiển đi qua nước Kiệt-xoa (Sơ-lặc), thấy biết tình hình Phật giáo lúc bấy giờ mới ghi chép lại những sự thật đáng quý như sau:
“Vua nước ấy (Kiệt-xoa) tổ chức làm Bàn-già-việt-sư. Bàn-già-việt-sư tiếng Hán gọi là ‘Ngũ niên đại hội’ (Đại hội 5 năm). Khi tổ chức hội, người ta thỉnh Sa-môn bốn phương đều vân tập đến. Vân tập rồi, trang nghiêm chỗ ngồi cho chúng Tăng, treo tràng phan bảo cái bằng lụa ngũ sắc, làm hoa sen bằng vàng, bạc, trải bày tọa cụ sạch
 

5 Du thạch 鍮石: Du thạch giống như vàng, dùng đồng và Lô cam thạch (loại khoáng thạch) mà luyện thành.
 
cho chư Tăng ngồi, rồi vua và quần thần theo đúng như pháp cúng dường, hoặc một tháng, hai tháng, hoặc ba tháng, phần nhiều là vào mùa Xuân. Vua tổ chức đại hội rồi lại khuyên quần thần thiết lễ cúng dường, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc năm ngày cho đến bảy ngày. Cúng dường xong hết, nhà vua thắng xe ngựa, đóng yên cương, từ phó sứ đến những bề tôi quý trọng trong nước cùng đi và mang theo vải trắng, đủ thứ trân bảo, những vật cần dùng cho Sa-môn, cùng chung với các quần thần phát nguyện bố thí cho chúng Tăng. Bố thí cho chúng Tăng xong, lại theo chúng Tăng định đoạt về đất của họ. Vì núi lạnh (đất này) chẳng sinh ra lúa nữa, chỉ có mì chín, chúng Tăng đã nhận mùa thu hoạch trong năm rồi. Nước này buổi sớm thường có sương, nên vua thỉnh chúng Tăng cầu nguyện cho lúa mạch chín, nhiên hậu mới được mùa thu hoạch. Trong nước ấy, có ống nhổ của đức Phật làm bằng đá, màu sắc giống như cái bát của đức Phật. Lại còn có một cái răng của Phật, người trong nước tôn kính răng đức Phật mà xây tháp thờ. Nước có hơn 1.000 vị Tăng, đều là học Tiểu thừa.”6
Theo đoạn ký sự trên, lúc bấy giờ vua nước Sơ-lặc sùng kính Tam bảo, nhiệt tâm cúng dường, trên làm dưới bắt chước theo, sĩ thứ trong nước không ai không sùng tín, có thể biết được tình hình như thế. Nhưng đương thời nước ấy thuần là một nước Tiểu thừa giáo.
Ở mục nước Sơ-lặc trong truyện Tây Vực sách Ngụy thư ghi, là năm cuối đời Cao Tông (năm 462 Tl.), vua nước ấy sai sứ vào đất Ngụy, hiến một tấm áo cà-sa của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, dài hơn hai trượng, có thể biết vua nước Sơ-lặc từ
 

6 Cao tăng Pháp Hiển truyện 1, T51n2085_p857c7.
 
thời đại Pháp Hiển trở về sau hai đời, nhất định cũng là tín đồ Phật giáo, không gì nghi ngờ. Lúc đó, vua Cao Tông muốn kiểm nghiệm thật hư của chiếc áo cà-sa, bèn để trên lửa, qua một ngày mà chẳng cháy, người xem đều kinh sợ.
Sau đó hơn 20 năm, khoảng năm 585 Tây lịch, vị Phật Tăng ở Nam Thiên Trúc là Đạt-ma-cấp-đa (Dharmagupta) cùng với ba người đồng hành đến Trung thổ, khi đi qua nước này cư trú hai năm trong ngôi Già-lam do vị vua nước ấy tạo dựng, và giảng cho Tăng chúng nước này nghe hai ngàn bài kệ Thuyết phá luận. Nếu người trước vì xiển minh nghĩa của Tam pháp ấn để đả phá ngoại đạo, thì người sau cũng vì thế gian thuyết hai ngàn bài kệ nghị luận đó (Đạt-ma-cấp-đa truyện trong Đường cao tăng truyện, quyển 2).7
Ngài Đạt-ma-cấp-đa vốn thông đạt cả giáo nghĩa Đại thừa và Tiểu thừa. Sau khi đến Trung Quốc, ngài dịch những kinh luận Đại thừa như:
Kinh Đại phương đẳng thiên trụ thiên tử sở vấn, 4 quyển.
Kinh Đại phương đẳng đại tập bồ-tát niệm Phật tam-muội, 10 quyển.
Kinh Dược Sư Như Lai bản nguyện, 1 quyển.
Kim cương bát-nhã luận, 2 quyển.
Bồ-đề tư lương luận, 2 quyển.
Nhiếp đại thừa luận thích luận, 10 quyển v.v…
Nếu đương thời Sơ-lặc hoan nghênh Đại thừa giáo thì ngài Đạt-ma-cấp-đa cũng giảng nói pháp Đại thừa. Song, xét tính chất những kinh luận của ngài, đại để đều là sách nhập môn, hình như lúc bấy giờ nước Sơ-lặc vẫn chưa thịnh hành giáo lý Đại thừa. Nhưng vua nước ấy tự kiến tạo Già-lam,
 

7 Tục cao tăng truyện 2, T50n2060_p435b05.
 
quả thật cũng có tấm lòng đại nguyện đối với Phật pháp. Căn cứ Tây Tạng truyện, vào giữa thế kỷ thứ V Tây lịch, vị hậu phi vua Vijayasimha là Shulik (tên này e rằng cùng nguyên ngữ với Sơ-lặc) đã tận lực tuyên dương hoằng pháp Phật giáo. Vu-điền nguyên là nước Đại thừa thì việc truyền bá Phật giáo vào Sơ-lặc thời này phải là Đại thừa giáo, mà sự nghiệp truyền giáo ấy hình như chưa thành công. Vậy nước này nhất định đã có kinh điển Đại thừa truyền vào; gần đây, ông Petrovski người Nga đã khai quật được quyển kinh Pháp hoa còn sót ở vùng đất này, bản chữ Phạn cổ, tức bản in photo trong kinh Pháp hoa tân dịch của ông Nam Điều và ông Tuyền dịch chung hiện nay.
Từ ngài Đạt-ma-cấp-đa trở về sau, khoảng vài mươi năm, tình hình Phật giáo nước này tuy không rõ, nhưng đại khái vẫn thấy có phát triển thêm. Năm 644 Tây lịch, khi ngài Huyền Trang đi qua nước ấy, ghi như sau:
“Nước Khư-sa chu vi hơn 5.000 dặm, nhiều sa mạc, ít đất mầu mỡ, nông nghiệp hưng thịnh, hoa trái nhiều, sản xuất dạ, vải lông mịn, dệt thảm lông mịn khéo. Khí hậu ôn hòa, gió mưa thuận thời. Tính người hung bạo, tục nhiều dối trá, lễ nghĩa khinh bạc, học nghệ tầm thường cạn cợt. Tục nước ấy hễ sinh con trai thì bó đầu cho dẹp lại (không tròn), dung mạo thô bỉ, thân vằn vện, mắt màu lục. Văn tự nước ấy lấy theo phép tắc Ấn Độ, tuy có san định lại vẫn còn thể thế. Ngôn ngữ từ điệu khác với các nước, thuần tín Phật giáo, siêng làm phúc lợi, Già-lam vài trăm ngôi, Tăng đồ hơn vạn người, học tập giáo lý Tiểu thừa Thuyết nhất thiết hữu bộ, nhưng không nghiên cứu nghĩa lý, phần nhiều chỉ tụng văn, nên người tụng thông tam tạng và Tỳ-bà-sa thì nhiều.”8
 

8 Tây Vực ký 12, T51n2087_p942c13.
 
Thời ngài Pháp Hiển, Tăng Tiểu thừa chỉ hơn một ngàn người, đến thời Huyền Trang đã tăng hơn một vạn người, nhiều hơn gấp mười, có thể biết là khoảng 250 năm này, Phật giáo Sơ-lặc đều trong tiến trình phát triển. Vả lại, thời ngài Huyền Trang, nhân dân nước ấy thuần tín Phật pháp, siêng phụng sự Tam bảo, rộng gieo trồng phước điền, kiến tạo Già-lam nhiều, đạt đến vài trăm ngôi. Thì ra Phật giáo Sơ-lặc về phương diện lượng rất khuếch trương hình thức mà phương diện chất quả thật không một chút dấu tích tiến bộ. Nói khác đi, tức là thời ngài Huyền Trang, Tiểu thừa Hữu bộ lưu hành y như vậy, Tăng học phái Tiểu thừa chỉ phúng tụng kinh luận Tiểu thừa mà thôi. Do vậy, có thể biết trí thức Tăng đồ Phật giáo ấy rất thiển cận, cạn cợt. Đồng thời xưa nay nước Sơ-lặc chỉ lưu hành Tiểu thừa giáo mà không có hình thái Đại thừa giáo, nên sức suy nghĩ và lý giải chung của dân nước ấy rất yếu kém. Do đó mà ngài Huyền Trang nói nước ấy:
“Tính người hung bạo, tục nhiều dối trá, lễ nghĩa khinh bạc, học nghệ tầm thường, cạn cợt.”
Việc ghi chép của Marco Polo9 cũng tương tự (Yule, Marco Polo, I. Trang 192). Tình hình như thế thì đương nhiên họ không thể lĩnh hội, tin ưa giáo lý Đại thừa cao thượng u huyền, nên họ kính tín phụng thờ Tiểu thừa cũng chỉ đọc tụng kinh luận đó mà thôi; còn đối với việc nghiên cứu giáo lý, e rằng nông cạn, hẹp hòi, không biết nhiều.
Thời ngài Huyền Trang, Phật giáo Sơ-lặc đã đạt đến thời kỳ cực thịnh, sau đó dân gian dần dần sùng tín vị đại thần Ahura Mazda của Ba-tư giáo và trở thành giáo đồ của Yêu
 

9 Marco Polo (Mã-khả Ba-la, 1254-1324) là một thương buôn, cũng là nhà thám hiểm gốc Venezia (Ý). Ông đến Trung Quốc bằng Con đường tơ lụa.
 
giáo (Zoroaster), nên trong mục nước Sơ-lặc — truyện Tây Vực của Đường thư nói, “tục thờ cúng Yêu thần”. Đến đầu thế kỷ thứ VIII, Tiểu thừa giáo nước này vẫn chưa tận tuyệt. Lúc bấy giờ, ngài Tuệ Siêu ghi lại tình trạng nước ấy là “có chùa có Tăng, tu hành Tiểu thừa pháp, ăn thịt, hành và hẹ v.v…” Chúng ta có thể biết, ngài Tuệ Siêu ghi thuật về nước Quy Tư, Vu-điền là Phật giáo hưng thịnh, cũng nói rằng “đủ chùa, đủ Tăng”, còn đương thời Phật giáo Sơ-lặc không có nhiều Già-lam, Tăng chúng như Quy Tư, Vu-điền, nên dần dần suy yếu! Lúc đó, Tăng chúng Phật giáo ở Sơ-lặc cũng ăn thịt và hành, hẹ v.v… giống với Tăng đồ Quy Tư ăn thịt tam tịnh.10
Theo Tabali tín đồ Hồi giáo ghi chép, khoảng năm 705 đến năm 715 Tây lịch, tướng quân Qutayba bin Muslim giáo đồ đạo Hồi đã đi qua Balkh, chinh phục Bukhāra, Samarkand và Ferghāna, phải là thời kỳ đầu của thời đại Khalīfa Sulayman (thời kỳ đầu năm 715-717 Tl.) xâm nhập Kāshgar — “thành thị biên cương Trung Quốc” và tàn phá nơi đó. Năm 715 Tây lịch, Qutayba bin Muslim phản lại Sulayman, khi quay trở về thì bệnh chết (Ancient Khotan, I. Trang 62). Lúc ông ấy đánh phá xâm chiếm, thiết nghĩ Phật giáo Sơ-lặc phải chịu một lần trù dập nữa. Đến khoảng thế kỷ thứ X, lãnh địa từ Nhiệt Hải (Issyk Kul) cho đến tận Sơ-lặc đều do đại sư Hồi giáo Satok Boghra Khān nổi tiếng ở Đông Turkestan
 

10 Thịt tam tịnh: Tam tịnh nhục 三淨肉. Theo Thập tụng luật 37, T23n1435_p265a03: “Có ba loại thịt, Ta (đức Phật) cho phép (Tỳ-kheo) dùng, ba loại ấy là, không thấy, không nghe, không nghi. Không thấy là, tận mắt không thấy sinh vật đó không phải vì mình mà bị giết. Không nghe là, không phải nghe từ người khả tín, “vì ông sinh vật đó bị giết”. Không nghi là, biết nơi này có đồ tể (giết sinh vật ấy, hoặc sinh vật tự chết chứ không phải vì mình mà giết, không nghi ngờ gì), đó là người từ tâm không đoạt mạng sống sinh vật”.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »