kỷ thứ III, cho thấy quốc hiệu viết bằng Phạn ngữ, hoặc viết theo hình thái ngôn ngữ Prākrit là Kustanaka, hay Khotainna (Stein: Ancient Khotan, trang 104-106). Từ Khotainna biến thành Khotana, hay Khpana thuộc văn tự Kharosthi, cuối cùng mới thành Khotana (Hòa-điền). Người Ấn Độ gọi nước đó là Khuất-đan, có thể là do Khotana mà ra; thường gọi là Kanna (Hoán-na), bởi âm “kh” của từ Khotana biến ra âm “k”, âm “t” biến ra âm “n”, kết quả âm “a” sau âm “t” bị lược bỏ đi. Trong ngôn ngữ Prākrit, sự biến hóa âm thanh rất phổ thông, không có gì là lạ. Đến như các dân tộc Hồ gọi đó là Khoát-đán, tức là Khotan; người Hung Nô gọi đó là U-ton (Vu-độn) thì tương đương với từ U-then của Tây Tạng ngữ, âm “Kho” biến làm âm “ho”, lại biến làm âm “hu”, rồi sau cùng biến thành âm “u”. Ton (độn 遁) tức là biến âm của “Tan”. Hiện tại người Tây Tạng gọi Hòa-điền là Ly Quốc (Li-Yul), không biết có phải lấy ý nghĩa đất nước sản sinh loài bò rừng (Yak – thú 獸) không? (Rochhill: Life of the Buddha, 235 note).
II. NHÌN CHUNG VỀ THẾ NƯỚC
Bản văn:4
Nước Cù-tát-đán-na, chu vi hơn 4.000 dặm, quá nửa là sa mạc, lãnh thổ đất đai hạn hẹp, thích nghi lúa má, nhiều trái cây, sản xuất thảm lông, dạ mịn, kéo tơ dệt sợi khéo léo; lại sản xuất ngọc trắng, ngọc đen. Khí hậu hài hòa, hay có gió lốc cuốn bụi; phong tục biết lễ nghĩa, tính người ôn hòa, hiếu học kinh điển sách xưa, biết nhiều kỹ năng. Dân chúng giàu có, mọi nhà đều an cư lạc nghiệp, nước chuộng âm nhạc, người ưa ca múa, ít mặc vải lông áo dạ, phần nhiều áo làm
4 Tây Vực ký 12, p943a14.
bằng dạ trắng. Nghi thức có lễ, phong tục có kỷ cương, văn tự hiến chương tuân theo Ấn Độ, có sửa đổi chút ít về hình thức, phần lớn có noi theo nhưng cải cách thêm. Ngôn ngữ khác các nước, sùng tín Phật pháp, Già-lam hơn 100 ngôi, Tăng đồ hơn 5.000 người, phần nhiều đều học tập giáo pháp Đại thừa. Vua rất kiêu hãnh oai vũ, kính trọng Phật pháp, tự nói rằng: Đời đời nối dõi theo trời Tỳ-sa-môn.
Giải thích: (lược)
Khảo chứng:
Những sự thật về nhân chủng, lịch sử chính trị, lịch sử Phật giáo v.v.. liên quan đến Cù-tát-đát-na, tức là Vu-điền (Hòa-điền ngày nay), xin đợi phần luận bàn sau. Ở đây trước tiên trình bày về các mặt địa lý, sản nghiệp và văn học.
1. Địa lý của Vu-điền — Hòa-điền, phía Nam dựa vào núi Côn Lôn, phía Bắc gần kề sa mạc. Nhưng có hai con sông bắt nguồn từ núi Côn Lôn, vượt qua biên giới chảy về phía Bắc, hai bên bờ đều là những cánh đồng màu mỡ, nên theo hướng dòng sông mà hình thành một vùng đất canh tác trải dài theo hướng Nam-Bắc. Hai con sông này, sông phía Đông gọi là sông Ngọc - Yurung-kāsh Darya (Bạch Ngọc hà [sông ngọc trắng]); sông phía Tây gọi là sông Kara-kāsh Darya (Hắc Ngọc hà [sông ngọc đen]). Sông Bạch Ngọc và Hắc Ngọc tuy chỉ cách nhau 13 dặm, nhưng lại là nguồn thuỷ lợi chính, tưới tiêu cho các nông trường Nam chí Bắc, hình thành một vùng đất màu mỡ rộng lớn. Các nước ở lưu vực sông Tarim (Tháp-lý-mộc), mặt trước đều là sa mạc, lưng nương theo mạch núi Miên Tuyên hướng Đông-Tây, nên nông trường nằm trải dài theo hướng Đông-Tây. Vả lại khoảng cách giữa sa mạc và mạch núi của con đường phía Nam vốn rất nhỏ hẹp, nên nông nghiệp các nước ở con đường phía Nam đều gặp nhiều khó