Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 56: II. Nhìn Chung Về Thế Nước (Trang 512 - 516)

kỷ thứ III, cho thấy quốc hiệu viết bằng Phạn ngữ, hoặc viết theo hình thái ngôn ngữ Prākrit là Kustanaka, hay Khotainna (Stein: Ancient Khotan, trang 104-106). Từ Khotainna biến thành Khotana, hay Khpana thuộc văn tự Kharosthi, cuối cùng mới thành Khotana (Hòa-điền). Người Ấn Độ gọi nước đó là Khuất-đan, có thể là do Khotana mà ra; thường gọi là Kanna (Hoán-na), bởi âm “kh” của từ Khotana biến ra âm “k”, âm “t” biến ra âm “n”, kết quả âm “a” sau âm “t” bị lược bỏ đi. Trong ngôn ngữ Prākrit, sự biến hóa âm thanh rất phổ thông, không có gì là lạ. Đến như các dân tộc Hồ gọi đó là Khoát-đán, tức là Khotan; người Hung Nô gọi đó là U-ton (Vu-độn) thì tương đương với từ U-then của Tây Tạng ngữ, âm “Kho” biến làm âm “ho”, lại biến làm âm “hu”, rồi sau cùng biến thành âm “u”. Ton (độn 遁) tức là biến âm của “Tan”. Hiện tại người Tây Tạng gọi Hòa-điền là Ly Quốc (Li-Yul), không biết có phải lấy ý nghĩa đất nước sản sinh loài bò rừng (Yak – thú 獸) không? (Rochhill: Life of the Buddha, 235 note).
II. NHÌN CHUNG VỀ THẾ NƯỚC
Bản văn:4
Nước Cù-tát-đán-na, chu vi hơn 4.000 dặm, quá nửa là sa mạc, lãnh thổ đất đai hạn hẹp, thích nghi lúa má, nhiều trái cây, sản xuất thảm lông, dạ mịn, kéo tơ dệt sợi khéo léo; lại sản xuất ngọc trắng, ngọc đen. Khí hậu hài hòa, hay có gió lốc cuốn bụi; phong tục biết lễ nghĩa, tính người ôn hòa, hiếu học kinh điển sách xưa, biết nhiều kỹ năng. Dân chúng giàu có, mọi nhà đều an cư lạc nghiệp, nước chuộng âm nhạc, người ưa ca múa, ít mặc vải lông áo dạ, phần nhiều áo làm
 

4 Tây Vực ký 12, p943a14.
 
bằng dạ trắng. Nghi thức có lễ, phong tục có kỷ cương, văn tự hiến chương tuân theo Ấn Độ, có sửa đổi chút ít về hình thức, phần lớn có noi theo nhưng cải cách thêm. Ngôn ngữ khác các nước, sùng tín Phật pháp, Già-lam hơn 100 ngôi, Tăng đồ hơn 5.000 người, phần nhiều đều học tập giáo pháp Đại thừa. Vua rất kiêu hãnh oai vũ, kính trọng Phật pháp, tự nói rằng: Đời đời nối dõi theo trời Tỳ-sa-môn.
Giải thích: (lược)
Khảo chứng:
Những sự thật về nhân chủng, lịch sử chính trị, lịch sử Phật giáo v.v.. liên quan đến Cù-tát-đát-na, tức là Vu-điền (Hòa-điền ngày nay), xin đợi phần luận bàn sau. Ở đây trước tiên trình bày về các mặt địa lý, sản nghiệp và văn học.
1. Địa lý của Vu-điền — Hòa-điền, phía Nam dựa vào núi Côn Lôn, phía Bắc gần kề sa mạc. Nhưng có hai con sông bắt nguồn từ núi Côn Lôn, vượt qua biên giới chảy về phía Bắc, hai bên bờ đều là những cánh đồng màu mỡ, nên theo hướng dòng sông mà hình thành một vùng đất canh tác trải dài theo hướng Nam-Bắc. Hai con sông này, sông phía Đông gọi là sông Ngọc - Yurung-kāsh Darya (Bạch Ngọc hà [sông ngọc trắng]); sông phía Tây gọi là sông Kara-kāsh Darya (Hắc Ngọc hà [sông ngọc đen]). Sông Bạch Ngọc và Hắc Ngọc tuy chỉ cách nhau 13 dặm, nhưng lại là nguồn thuỷ lợi chính, tưới tiêu cho các nông trường Nam chí Bắc, hình thành một vùng đất màu mỡ rộng lớn. Các nước ở lưu vực sông Tarim (Tháp-lý-mộc), mặt trước đều là sa mạc, lưng nương theo mạch núi Miên Tuyên hướng Đông-Tây, nên nông trường nằm trải dài theo hướng Đông-Tây. Vả lại khoảng cách giữa sa mạc và mạch núi của con đường phía Nam vốn rất nhỏ hẹp, nên nông nghiệp các nước ở con đường phía Nam đều gặp nhiều khó
khăn. Riêng chỉ có Hòa-điền nhờ hai dòng sông ban cho màu mỡ, mà một mình có thể khai thác nông trường dài từ Nam đến Bắc. Đây chính là lý do khiến cho nước Vu-điền cổ đại có lịch sử phồn vinh lâu dài. Ông Stein từng ở chỗ Hòa-điền hiện nay cách Tây bắc là 16 dặm, hướng về phía Bắc, khai quật phát hiện nhiều di tích cổ. Nhân đó mới biết thủ phủ của Vu-điền thời cổ đại, diện tích lãnh thổ rộng lớn hơn Hòa-điền ngày nay.
2. Sản nghiệp của Vu-điền — Nông sản, vật sản của Hòa-điền hiện đại là gạo, lúa mì, lúa Ngọc v.v…, cây trái có: Nho, đào, hạnh, lâm cầm,5 dưa tây v.v…, còn cây bông và cây dâu thì trồng tùy theo chỗ. Ngọc của Hòa-điền, Trung Quốc gọi là ngọc Côn Lôn, trải qua nhiều đời đều trân quí. Trong lòng sông Bạch Ngọc có thể nhặt được ngọc màu trắng hoặc màu nhạt; lòng sông Hắc Ngọc thì có ngọc màu lục hoặc màu đà đậm; từ đó sông được đặt tên và trong bản văn nói là “sản sinh ngọc trắng ngọc đen” là chỉ cho điều này. Truyện nước Vu-điền trong Ngũ đại sử (quyển 74) nói rằng:
“Phía Đông gọi là sông Bạch Ngọc, phía Tây gọi là sông Lục Ngọc, lại ở phía Tây có một con sông gọi là sông Ô Ngọc; ba dòng sông đều có ngọc mà khác màu sắc”.
Theo đây thì ngoài sông Bạch Ngọc, Hắc Ngọc ra còn có sông Lục Ngọc. Song căn cứ thực tế, trên thượng du sông Hắc Ngọc, có một nhánh sông sản sinh ra ngọc màu lục, phẩm chất rất kém, nhân đó mới tưởng tượng là có một dòng sông riêng biệt. Ở các nước thuộc lưu vực sông Tarim không trồng cây dâu, nhưng là sản vật riêng của nước Hòa-điền, nên
 

5 Lâm cầm 林檎: Một thứ táo tây, quả hơi nhỏ, cũng gọi là hoa hồng hay sa quả. Trong bản nguyên tác viết là “lâm cầm 林擒”, có thể nhầm.
 
 Hòa-điền phát triển nghề nuôi tằm chế tơ. Ông Ptolemy nói, tơ vốn sản xuất ở nước “Seres” (Issedon Serica), rồi đi qua Ba-tư mới chuyển vào châu Âu. Ông Richthofen cho rằng “nước Seres” tức là nước Vu-điền (Richthofen: China, I. P.P. 487, Sc). Theo thuyết của ông Procopius: Vào đời vua Justinian của đế quốc Đông La-mã, khoảng năm 550 Tây lịch, có hai người tu sĩ Cơ-đốc giáo đi đến nước Serindia ở phương Đông, lấy được giống tằm, rồi mang về đế quốc Đông La-mã. Nước Serindia tức là Hòa-điền (Yule: Cathy, I. P. XIVI).
Ông Stein từng đào được vật dệt sợi bông6 thời xưa ở tại Hòa-điền, có thể chứng minh khởi nguyên nghề dệt bông vải có từ xa xưa. Đến tận ngày nay, người theo làm nghề ấy còn đến 12.000 hộ. Khởi nguyên của nghề dệt sợi lông cũng rất lâu. Ông Stein đã tìm được vật dệt lông cổ đại ở vùng Niya, chế tạo khoảng thế kỷ thứ III. Trong bản văn nói: “Sản xuất thảm lông, dạ mịn”, vậy là đến thời thế kỷ thứ VII, việc chế tạo vật dệt lông còn thịnh hành. Ngày nay người hành nghề dệt lông thú tại Hòa-điền còn 1.000 hộ. Quy chế dệt lông thú Hòa-điền là chiết trung giữa thể thức Ấn Độ và thể thức Trung Quốc, cũng có thể nói thể thức Vu-điền có sự đặc sắc riêng của nước ấy. Khởi nguyên nghề chế tạo giấy cũng rất xưa. Văn thư cổ đại do ông Stein đào được ở Dandān-Uiliq, giám định là chế phẩm của thế kỷ thứ V. Giấy chế tạo của Vu-điền là dùng vỏ cây dâu làm nguyên liệu, nên cây dâu ở sông Tarim là thuộc về sở hữu của Hòa-điền.
3. Văn học của Vu-điền — Dòng văn học Ấn Độ truyền vào Vu-điền đã rất lâu. Người Trung Quốc có ngài Chu Sĩ Hành, muốn cầu bản Phạn kinh Bát-nhã nên đến các nước
 

6 Hán: Mộc miên 木棉: 1. Cây bông gạo, 2. Tơ, bông, chỉ, sợi.
 
Tây Vực. Đến nước Vu-điền thì được bản Phạn kinh Phóng quang bát-nhã gồm 90 chương, hơn 60 vạn lời. Năm Thái Khang thứ 3, đời Võ Đế nhà Tây Tấn (năm 282 Tl.), sai đệ tử là Phất Như Đàn mang bản kinh chữ Phạn về Lạc Dương, tức là nguyên bản kinh Phóng quang bát-nhã Hán dịch hiện hành (tham chiếu Khai Nguyên thích giáo lục quyển 2). Nếu ngài Chu Sĩ Hành xuất phát từ Trung Quốc là năm Cam Lộ thứ 5 nhà Ngụy (năm 260 Tl.), và bản Phạn kinh Bát-nhã mà ngài có được là ở Vu-điền, vậy thì giữa thế kỷ thứ III, bản kinh ấy đã tồn tại ở Vu-điền là rõ ràng. Khi bản Phạn từ Ấn Độ truyền vào nhất định đến nước này trước. Năm 1892 Tây lịch, cách Hòa-điền về phía Tây nam 30 dặm, phát hiện kinh Pháp cú tiếng Phạn bằng văn tự Kharosthi (tham chiếu Tăng đính Thích-ca Mâu-ni truyện, hình 16). Nếu thể chữ ấy là thể chữ được thông hành ở miền Tây bắc Ấn Độ khoảng năm 500 Tây lịch, thì có thể kinh này đã truyền vào Vu-điền vào thế kỷ thứ VI.
Tóm lại, nguyên bản kinh điển Đại thừa dịch ra Trung văn được tìm thấy ở Vu-điền rất nhiều. Nhưng phần lớn kinh điển Đại thừa đều dùng tiếng Phạn (Sanskrit) ghi chép, nên nền văn học Phật giáo Ấn Độ tiếng Sanskrit đã thông hành ở Vu-điền từ lâu, việc đó có thể thấy rõ! Trong sách (Tây Vực ký) nói: “Văn tự hiến chương tuân theo Ấn Độ, có sửa đổi chút ít về thể, thế, phần lớn có noi theo nhưng cải cách thêm”, tức là ý đó.
Ông Stein phát hiện những văn thư cổ ở Dandān-Uiliq, phía Đông Hòa-điền, là sách biên chép bằng văn tự Brāhmi7 từ thế kỷ thứ VIII. Ông Hoernle (A. F. Hoernle) giám định nó
 

7 Brāhmi: Văn tự này cho là do Phạm (Phạn) thiên chế tác, thông hành thời cổ đại Ấn Độ.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »