Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 15: Những Nhà Sử Học Nhật Bản Có Quan Hệ Nghiên Cứu Đại Lý Lịch Sử Phật Giáo Tây Vực - I. Niên đại văn hóa truyền từ phía đông (Trang 135 - 138)

NHỮNG NHÀ SỬ HỌC NHẬT BẢN
CÓ QUAN HỆ NGHIÊN CỨU
ĐỊA LÝ LỊCH SỬ PHẬT GIÁO TÂY VỰC
                                                                                                                              Đông Sơ
I. NIÊN ĐẠI VĂN HÓA TRUYỀN TỪ PHÍA ĐÔNG
Nhật Bản là một quốc gia hải đảo ở Đông Á, cách Trung Quốc chỉ một vùng nước, và bán đảo Triều Tiên lại nhô lên ở khoảng giữa. Thời kỳ đầu, văn hóa Nhật Bản do Trung Quốc từ Đông truyền đến, phần nhiều lấy Triều Tiên làm môi giới. Cho nên nguồn gốc văn hóa hai nước Trung-Nhật rất uyên nguyên sâu xa. Sự thật lịch sử có thể chứng minh, như Cơ Tử1 dẫn dân Ân đến nhận phong ở Triều Tiên. Vệ Mãn2 dẫn dân Yến kiến lập nước ở bán đảo. Thời kỳ triều nhà Ân và Châu, bán đảo Triều Tiên rơi vào phạm vi thế lực Trung Quốc, mà khoảng cách giữa Triều Tiên và Nhật Bản lại ngắn, chỉ cách nhau bờ biển nên không tránh khỏi việc hai dân tộc vượt biển qua lại. Người Nụy3 qua đến bán đảo, và truyền
 

1 Cơ Tử 箕子: Cơ Tử là Thúc phụ của vua Trụ đời Thương (Ân), làm quan Thái sư. Vua Trụ hoang dâm vô đạo, ông can gián, vua Trụ không nghe bắt giam. Khi Châu Văn Vương diệt Trụ, ông mới được phóng thích. Sau ông lánh qua Triều Tiên, trở thành Thủy tổ Triều Tiên.
2 Vệ Mãn 衞滿: Người Tế Yến (nay Bắc Kinh, Hà Bắc), Tần-Hán (Tần-Yến). Cuối đời Tần đầu đời Tây Hán, Yến Vương Lô Quản phản Hán chạy trốn vào Hung Nô, Mãn thừa cơ tụ tập hơn ngàn người đánh Triều Tiên, giết vua Triều Tiên là Cơ Chuẩn rồi xưng vương, kiến đô ở Vương Kiệm (nay là Bình Nhưỡng, Triều Tiên)…
3 Người Nuỵ 倭人: Hoặc gọi là người Du (俞人), tên một bộ tộc thời xưa, tức nay là người Nhật Bản.
 
thuyết đồn rằng đến bán đảo là từ Trung Quốc, trong văn hiến cổ đại Trung Quốc như Sơn hải kinh,4 Hán thư, Luận hành5 v.v... đều có ghi việc của người Nụy. Và chuyện của Từ Phước,6 chắc phải đợi sự xác chứng, nhưng những năm cuối Tần-Hán, thời Đại lục loạn lạc thì việc Đông độ (từ Đông qua) của người Tần và người Hán là sự thật. Từ thời Hán, Ngụy, Tùy, Đường trở về sau, Nhật Bản thường đến Trung Quốc triều cống, được Trung Quốc thọ phong, thấy trong Chính sử ghi chép.
Văn hóa Trung Quốc từ Đông truyền đến Nhật Bản vào thời Tần-Hán đến tới Minh-Thanh, như Hán học từ Đông cứ truyền dần đến chưa từng gián đoạn giữa chừng. Nên người Nhật có lúc gọi Trung Quốc là Đường quốc, gọi người Trung Quốc là người Đường, thậm chí tất cả mọi thứ vật phẩm phần nhiều dùng chữ Đường đặt phía trước (trên đầu) của chúng, vì Nhật Bản sở đắc văn hóa Trung Quốc và phần nhiều do một mình đời Đường truyền đến. Văn hóa đời Đường từ Đông tiến dần, quả thật ảnh hưởng rất lớn đối với quốc dân Nhật Bản. Nhưng từ đời Đường trở về trước, giới học thuật Nhật Bản phần nhiều gián tiếp từ Triều Tiên, chẳng phải trực
 

4 Sơn hải kinh: Sách gồm 18 thiên, phân ra Sơn kinh 5 thiên, Hải kinh 13 thiên, nội dung bao quát về lịch sử, địa lý, dân tộc v.v… Không rỏ ai trước tác, các học giả cho rằng có thể trước tác vào thời Chiến Quốc hoặc năm đầu thời Tây Hán.
5 Luận hành 論衡: Do Vương Sung trước tác thời Đông Hán, 30 quyển, hơn 2 vạn chữ. Nguyên bổn 85 thiên nay mất một. Nội dung chủ yếu phê bình sự mê tín tôn giáo và việc chiêm nghiệm xấu tốt đương thời.
6 Từ Phước 徐福: Còn gọi là Từ Thị (徐市), người Lang Tà (phía Nam Nam Giao, Sơn Đông ngày nay), tự Quân Phòng. Tần Thủy Hoàng năm thứ 18 (219 trước Tl.), sai Từ Phước dẫn theo đồng nam, đồng nữ cả ngàn người vào biển tìm thuốc trường sinh, kết quả đi không trở về. Truyền thuyết rằng, họ đã đến Nhật Bản định cư.
 
tiếp thâu nhận từ Trung Quốc. Như Ngũ kinh bác sĩ,7 Y bác sĩ,8 Lịch bác sĩ9 cho đến Luận ngữ, Kinh sử v.v... đều do người Bách Tế10 v.v... truyền vào Nhật Bản. Đến thời Lưu-Tống, Nhật Bản sai sứ đến, trước sau gồm mười lần, đó là lần đầu tiên Trung-Nhật chính thức giao thiệp trên phương diện quốc gia, cũng là thời kỳ đầu văn hóa Trung Quốc Đông truyền. Đời Tùy, Nhật Bản trước sau sai phái sứ giả vào Tùy bốn lần. Truyện nước Nụy trong Tùy thư viết:
Năm Đại Nghiệp thứ 3 (năm 607 Tl.), vua nước ấy là Đa-lợi-tư-bắc sai phái sứ triều cống. Sứ giả nói rằng: “Nghe thiên tử Bồ-tát Hải Tây trùng hưng Phật pháp nên sai sứ triều bái, gồm thêm Sa-môn vài mươi người đến học Phật pháp”.
 

7 Ngũ kinh bác sĩ 五經博士: Tên một chức quan, đặt đầu tiên vào năm thứ 5 niên hiệu Kiến Nguyên đời Hán Võ đế (136 trước Tl.), được truyền dạy năm loại kinh của Nho gia: Thi, Thư, Dịch, Lễ và Xuân thu.
8 Y bác sĩ 醫博士: Chức quan chuyên dạy về y học. Chức quan này có từ đời Tuỳ.
9 Lịch bác sĩ 曆博士: Quan coi về lịch năm, tháng, ngày. Chức quan này có từ đời Tuỳ.
10 Bách Tế 百濟: Một nước thời xưa, phía Tây nam bán đảo Triều Tiên, một trong những nước ở Mã Hàn (thời Hán, Mã Hàn có 56 nước, đến năm 350 trước Tây lịch bị Bách Tế tiêu diệt) đầu tiên. Tương truyền do Chu Mông Tử Ôn Tộ (Phù Dư Ôn Tộ) sáng lập vào năm thứ 18 trước Tl.. Nhân vì trăm nhà (bách gia) qua biển (tế hải) đến đất Mã Hàn kiến quốc nên gọi là Bách Tế.
Theo Cổ sự ký và Nhật Bản thư kỷ chép, dưới thời Ứng Thần Thiên Hoàng, vua nước Bách Tế là Tiếu Cổ Vương phái sứ giả là A Trực Kỳ sang cống hai con ngựa quí. Vì A Trực Kỳ là người thông hiểu Nho học, Thiên Hoàng hỏi, bên Bách Tế ai thông bác về ngành học này, A Trực Kỳ đáp, chỉ có Vương Nhân. Thiên Hoàng bèn nhờ Tiếu Cổ Vương mời Vương Nhân. Khi Vương Nhân xuống thuyền sang quần đảo, Tiếu Cổ Vương gửi biếu Ứng Thần Thiên Hoàng một bộ Luận ngữ và một quyển Thiên tự văn. Vương Nhân đến nơi, được hoàng tử Thố Đạo Trĩ Lang Tử bái làm thầy. Thế là Nho giáo truyền từ triều đình rồi lan dần ra dân gian từ thời Ứng Thần Thiên Hoàng.
 
Trong Quốc thư nước ấy ghi rằng: “Thiên tử phía mặt trời mọc gởi thư cho xứ mặt trời lặn, thăm hỏi”. Vua Tùy Dương Đế vì chiêu dụ ngoại phiên và khoa trương văn hóa Trung Quốc mới sai phái Văn Lang Bùi Thế Thanh và hơn mười người, theo sứ giả Nhật là Tiểu Dã Muội Tử đáp lễ Nhật Bản, từ đó Ngũ kinh bác sĩ, công nghiệp kỹ nghệ và kinh điển Phật giáo đều đi qua bán đảo truyền đến Nhật Bản. Phần lớn hạt giống văn hóa Trung Quốc Đông truyền không chỉ khiến văn hóa quần đảo Nhật Bản phát sinh tác dụng “chất men” mà còn giúp người Nhật Bản có thể lý giải văn hóa Trung Quốc sâu hơn và tiến tới hâm mộ nhiều hơn và học tập theo.
Đến thời Suy Cổ Thiên Hoàng,11 với ý đồ làm cho văn hóa Trung Quốc trực tiếp hoà nhập nên sai sứ vào Tùy. Thời Suy Cổ Thiên Hoàng, Thái tử Thánh Đức nhiếp chính, Thái tử thông minh hiếu học, dốc lòng tin Phật pháp, từng chú giải kinh Pháp hoa, giảng thuyết kinh Thắng Man v.v... vị Tăng Cao Ly là Huệ Từ rất thán phục thái tử. Đến khi trưởng thành nắm chính quyền, trên chế độ quốc gia Thái tử dùng Nho giáo làm gốc lớn cai trị thiên hạ, còn việc giáo dục quốc dân đều dùng Phật giáo làm quốc sách chỉ đạo tinh thần, nên trong 17 điều hiến chương quốc dân có quy định phải dốc một lòng tin Tam bảo; đồng thời cố theo đuổi văn hóa Trung
 

11 Suy Cổ Thiên Hoàng 推古天皇: Năm 587, hoàng đế Dụng Minh (Yomei) băng hà, dòng họ Tô Ngã (Soga) đưa hoàng đế Sùng Tuấn (Sushun) lên ngôi. Nhưng 5 năm sau đó, Sùng Tuấn bị đại thần Tô Ngã Mã Tử (Soga-no-Umako) ám sát. Để đối phó với tình trạng khẩn cấp này, phu nhân của hoàng đế Mẫn Đạt (Bidatsu – Mẫn Đạt trị vì từ năm 572 đến năm 585, là cha của Dụng Minh, chồng của Suy Cổ) lên ngôi lấy hiệu là Suy Cổ. Bà là vị nữ Thiên hoàng đầu tiên, là vị Thiên hoàng thứ 33 của Nhật Bản. Ngay khi lên ngôi, nữ Thiên hoàng đã phong danh hiệu Thánh Đức Thái Thử cho hoàng tử Xứng Đức (Shotoku), con của hoàng đế Dụng Minh rồi trao quyền nhiếp chính cho Thánh Đức Thái Tử lúc đó mới 19 tuổi. 
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »